PHỐ CHỢ KỲ LỪA
Tạp văn
Nếu là khách phương xa lên miền biên viễn, thì sau khi qua thị trấn
Đồng Mỏ độ hai chục cây số bạn sẽ thấy không khí quanh mình trở nên khác hẳn:
Trong lành và tươi mát. Ấy là bởi bạn đã lên đến độ cao trên 500m so với mực
nước biển rồi đấy. Độ chục phút sau, một ga tàu lửa rất cũ sẽ hiện ra trước
mắt; ga Bản Thí, thì xem như bạn đã đặt chân đến thành Lạng, vì chỉ độ mươi cây
số nữa thôi bạn sẽ được ghé thăm phố chợ Kỳ Lừa.
Vào
thời ông Thân Công Tài cùng thuộc hạ chưa lên kế hoạch mở mang thương mại,
thành Lạng hẳn còn rất đìu hiu, cái thung lũng nằm giữa bốn bề đồi núi được tô
điểm bởi dòng sông Kỳ Cùng uốn lượn chưa thể gọi là sầm uất. Những đoàn sứ bộ
của cả hai nước lân bang qua lại nơi bến đá, chắc cũng chỉ có một cảnh quen thuộc
ấy là lau lách đìu hiu và con thuyền nhỏ của ngư ông hững hờ neo nơi bến vắng.
Nhân nhắc đến sứ bộ, chẳng hiểu sao trong tôi lúc nào cũng gợi lên hình
ảnh đoàn người mệt mỏi, cặm cụi đi giữa trùng điệp núi đồi. Người được giao
trọng trách thay mặt thiên tử, thay mặt bá tánh đi gặp vua chúa xứ người ấy hẳn
phải là một bậc nhân tài hiếm có trong đời. Tôi chẳng muốn nói nhiều đến công
việc ngoại giao của họ, cái làm tôi nhớ hơn cả là trong con người của những bậc
danh tài ấy luôn có một khoảng lớn dành cho thi phú, chẳng vậy mà đã có một
Phùng Khắc Khoan tài tử đã tình cờ gặp gỡ và ngâm vịnh cùng tiên Liễu Hạnh tại
vùng đất biên ải này.
Truyền thuyết chỉ nói trạng Trình khi đi sứ Trung Hoa trở về ngang qua
khu rừng đào thuộc Đoàn Thành thì gặp một người con gái xinh đẹp ngồi nghỉ dưới
gốc cây, họ Phùng thấy nàng má hồng mắt biếc bèn buông lời ong bướm, chẳng ngờ
thôn nữ nọ lại đối đáp thông minh trôi chảy, khiến ông trạng phải mười phần nể
phục. Họ Phùng lúc ấy đâu biết mình có phúc lớn được tiếp kiến với thần tiên,
chỉ mãi sau này khi đã về đến Thăng Long, Phùng Khắc Khoan lại có dịp tái ngộ với
Liễu Hạnh và nhận ra sự thật, để rồi ngỡ ngàng như trong giấc mơ.
Hôm nay, có người khách lãng du tình cờ nghe được giai thoại ấy bỗng
cũng thầm muốn một lần được gặp tiên nữ, chẳng biết nàng đang ở nơi đâu giữa
miền biên viễn quanh năm mây phủ này?
.....
Ai lên xứ Lạng cùng anh
Bõ công bác mẹ sinh
thành ra em...
Câu ca dao chẳng biết có tự khi nào mà thủa nhỏ tôi đã thuộc làu qua
lời ru của bà, của chị, vậy mà cũng có khi, bởi dòng đời trôi đẩy khiến tôi
quên bẵng đi mất - nơi ấy- quê hương
mình lại ềm đềm đến vậy.
Có dịp ghé thăm Xứ lạng hôm nay du khách thật khó hình ung ra được
chính nơi đây chỉ cách nay vài thập kỷ, chợ Kỳ Lừa vào phiên thú vị đến thế
nào. Người ở bản xa đi từ lúc gà gáy canh ba, đến gần chợ mới rẽ vào bụi cây
đám cỏ nào đó thay áo mới, vấn tóc, soi gương. Đi chợ không hẳn để bán mua, có khi chỉ vì nhớ
cô gái bản mà đến, lại có khi chỉ là bởi hàng cao đai* nấu khéo nơi gốc dã
hương già mà tìm về. Đông vui, tấp nập, này là sắc xanh của áo chàm, với nông
thổ sản trên vai xuống, nọ là bóng áo nâu thấp thoáng ấy là những người miền
xuôi mang theo muối, cá khô lên...để đổi lấy những sản vật của núi rừng.
Chợ không có cổng vào, cũng chẳng bảng tên, nhưng hễ nói đến là ai cũng
biết, bởi nó họp trên cả một vùng rộng lớn của Lạng thành.
Đền
thờ người có công mở mang phố chợ nằm trên đỉnh một con dốc dài, hàng năm cứ
vào mùa Xuân người dân ở đây lại mở hội tưởng nhớ ông. Cuối con dốc ấy có một
địa danh nghe khá lạ tai; Giếng Vuông, lạ là bởi hễ nói đến giếng hẳn ai cũng
nghĩ ngay đến cái miệng hình tròn. Nhưng riêng nó quả là vuông thật, nằm ngay
sát con suối nhỏ chảy xuyên qua chợ, một thời là nguồn nước sinh hoạt của cư
dân quanh vùng, giếng bây giờ không còn.
Chợ xứ Lạng hôm nay khang trang, to rộng, nhiều hơn nhưng đã mất rồi
cái gọi là bản sắc, chỉ còn hai ba dãy phố nhỏ nằm nơi khuất nẻo là còn bày bán
dăm ba thứ hàng do người dân bản địa trồng trọt hoặc sản xuất ra, tôi gọi đó là
sự níu kéo cuối cùng.
Khách đến Lạng Sơn bây giờ biết nhiều hơn đến chợ Tân Thanh, Đông Kinh
hay chợ Đêm, với đặc trưng là hàng điện tử, may mặc của Trung Quốc.
Cũng
may, vẫn còn đó những đặc sản không thể trộn lẫn của nơi đây, ấy là món vịt quay
béo ngậy bày bán nhiều nơi, mà đình đám hơn cả chính là dãy hàng ở cuối đường
Bắc Sơn bây giờ. Hay là hàng coongs phù chỉ xuất hiện vào những chiều Đông và
đôi khi vẫn sáng đèn lúc đã khuya lắm. Lại thương cô gái nhỏ thu mình trong giá rét gắng đợi thêm người khách muộn.
Dạo chợ Kỳ Lừa xong thật là thiếu xót nếu không tản bộ qua cây cầu nhỏ
để sang bên kia sông, cầu này mang tên chợ, nhưng dân gian vẫn gọi là cầu sắt,
đơn giản vì nó được xây dựng hầu hết từ thứ kim loại này. Với tôi, nó là một
trong những cây câu đẹp nhất, nhỏ thôi nhưng rắn rỏi, cũng không kém phần điệu
đà bởi hai dãy lan can dành cho người đi bộ, tôi chắc ai, nếu một lần đứng ở
đó, trên cầu, ngắm hoàng hôn đang buông dài phía đại ngàn hẳn sẽ rất khó quên.
Lại nữa, chỉ ngắn thôi nhưng ở hai bên đầu cầu là hai địa danh tâm linh
nổi tiếng, bờ Bắc có đền Kỳ Cùng được biết đến bởi sự linh thiêng ít thấy, đền thờ thần giao longs với
một điển tích nhiều tình tiết bi ai.
bờ Nam là nơi tọa lạc của ngôi chùa cổ có tên Diên Khánh, tục gọi chùa Thành. Mà tôi cũng thích cái tên tục hơn,
nó mộc mạc, gần gũi, nhưng lại đầy vẻ tôn nghiêm thuần khiết. Ngày trước, tôi
hay đi lễ chùa, đi chẳng phải cầu gì, chỉ cần được
nghe thoang thoảng mùi hương trầm ngan ngát trong gió sớm. Là có đôi phút tĩnh
tâm mà ngẫm nghĩ sự đời, cũng có khi chỉ mong
nhìn thấy bụi mẫu đơn đang trổ bông bên bờ tường rêu phong cũ kỹ mà thôi.
Nay, thì chẳng muốn nữa bởi dù cố tìm nhưng không thấy cái gọi là đi
vãn cảnh chùa, sư sãi thì cưỡi xe sang, ở phòng máy lạnh, xài đồ xa xỉ mà không
chút bận tâm. Phật tử chỉ chăm chăm cầu lộc, cầu vinh...khấn vái, xin xỏ chẳng
chút ngượng mồm nơi cửa Phật, nghĩ mà thương thay cho những kiếp người.
Mà thôi, ta đi tiếp, đến khu bờ Nam của thành Lạng, người dân vẫn gọi
là bên Tỉnh, nơi có những dãy phố dài, thẳng tắp, vỉa hè còn rộng hơn lòng
đường, cây xanh phủ bóng mát quanh năm. Chỗ này là do người Pháp sau khi chiếm
Lạng sơn đã cho xây dựng làm khu hành chính, nhà ở cho quan chức thời đó.
Ngồi nhấm nháp cốc trà nóng thơm ngát trên hè phố, dưới nắng mai tràn ngập của một
ngày Đông, tôi nghĩ về tầm nhìn của người đã được giao trách nhiệm quy hoạch đô
thị cho Lạng sơn hơn trăm năm trước. Để đến tận bây giờ, trong mắt tôi, nơi đây vẫn là một
trong những thành phố đẹp nhất miền Bắc, cái nhìn của bậc tiền nhân sao khác
làm vậy so với lũ cháu con sau này.
Thoáng chốc, lại đã tàn ngày, nắng chiều chiếu xiên xiên trên những dãy
tường thành còn vương lại dọc hè phố khiến cho tâm trạng của người lữ khách
bỗng trở nên chơi vơi, xa vắng, những thành xưa lối cũ, bóng liễu bờ lau... giờ
ở nơi đâu.
Hết.
Bế Mạnh Đức


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét