ÔNG LÃO
NGỒI DƯỚI HIÊN NHÀ
Truyện ngắn của Bế Mạnh Đức
1. Không nhớ là từ
bao giờ, nhưng cứ mỗi lần đi ngang qua chỗ ấy tôi lại thấy ông lão lặng lẽ ngồi
dưới hiên ngôi nhà đó. Nằm một mình nằm giữa vùng cỏ xanh nhưng tôi không thấy
vẻ cô đơn từ nó, trái lại,cái cảm giác gần gũi, thân thiết bao quanh ngôi nhà
luôn khiến tôi nhẹ lòng.
Vào những ngày Đông
hửng nắng, ông lão, với tấm áo bông to sù ngồi giữa cái vệt nắng vàng sậm, từ
lâu đã trở nên thân thuộc với tôi. Dù vậy, tôi chưa bao giờ nhìn rõ mặt ông,
đôi mắt lại càng không, vì có thể thời gian đi qua đó quá ngắn, mà cũng có thể
tôi không chủ tâm, chỉ biết rằng ông lão hay trông về một hướng và ánh mắt ấy
rất xa xăm, nhưng tuyệt nhiên chẳng có chút ưu tư nào cả, có vẻ như mọi thứ
không tồn tại trong cái nhìn ấy.
Có đôi lần khi đã
đi qua rồi tôi bỗng ngoái lại, giống như những khi chợt trông thấy một giai
nhân ngang qua mình, tôi cứ chờ một cái liếc mắt từ phía ấy, nhưng ông lão vẫn
dửng dưng. Nhiều lúc tôi đồ rằng lão đã mất cảm giác, hay ít ra là mất trí nhớ,
chẳng còn biết gì xung quanh, nhưng rồi ý nghĩ đó nhanh chóng bay đi vì cái
dáng ngồi ấy, gương mặt ấy, cả đôi mắt tôi chưa một lần trông tỏ nữa, tất cả
đều cho tôi một xúc cảm lạ lùng, nó giống như sự bình yên hiếm có trong cuộc
đời.
2. Ta biết mi đang
nghĩ gì,có phải mi từng cho rằng ta là một lão già tật bệnh, ngồi đó chẳng hơn
gì đống cỏ khô ngoài bãi sông sau vụ mùa. Rằng ta có cũng được mà chẳng cũng
không sao! Ồ không, chắc chắn không, cái lưng mi đã cho biết tất cả, nó bảo
rằng không phải vậy, và ta còn thấy mi đang mang một dấu hỏi rất lớn về ta.
Ta biết vậy vì ngày
nào nào mi chẳng đôi lần qua đây, có hôm mi vừa đi vừa khe khẽ hát một khúc tình
ca xưa cũ nào đó, rất có thể lúc ấy mi vừa ứng được chút tiền còm. Còn khi nào
mi chậm chạp bước, vừa đi vừa ngẫm ngợi, cái đầu nặng nề cúi xuống như đang kéo
cả thân mình, hẳn làmi mới bị cho thôi việc, vì cái tội cãi lại cấp trên mãi
không sữa được.
Ta lại còn biết
rằng đã hơn năm nay mi chỉ nằm dài bám váy vợ, một cô nàng chăm chỉ và rất yêu người
đàn ông của mình. Ta biết vậy vì cứ vào mỗi chiều muộn, ta lại thấy ánh mắt của
cô ấy lấp lánh vui vì sắp được gặp chồng.
Còn
mi.
Hẳn
là vậy rồi, mi vẫn cho rằng lẽ ra với tài năng của mình thì mi phải ở một nơi
khác, một chỗ nào đó chỉ toàn là những bậc quyền quý, những tài tử giai nhân,
những nhà cao cửa rộng, lên xe xuống ngựa, chứ chẳng phải quanh quẩn trong cái
căn nhà cấp bốn cũ rích rêu xanh có giàn mướp lưa thưa trái mỗi độ Thu về nọ.
Rồi
có khi cao hứng mi lôi giấy bút ra tập ghép vần và gọi đó là thơ, những con chữ
thờ ơ nông cạn cũng giống như cái tầng tư duy của ngươi vậy, ta không trách gì
ngươi vì ta biết dù có cố thế nào đi nữa mi cũng chẳng qua nổi nó đâu. Cái mà
ai cũng phải sống cùng với nó, có khác chăng là có người thì nhìn hoặc cảm thấy
nó, nhưng có người không bao giờ biết đến nó, tội nghiệp thay cho những ai như
thế.
Lại
có người còn tự xây cho mình cái bức tường thành ấy để rồi mãi mãi chỉ ngồi
trong đó mà biết vậy, mà yên tâm vậy.
Ta
lại còn nghe nói mi chưa bỏ được cái tật chắp tay sau đít vừa đi quanh nhà vừa
đọc cái mớ chữ lộn xộn nọ bằng chất giọng khê nồng hiếm có, cũng may,chỉ có vài
tay bạn nhậu là phải chịu đựng mà thôi.
Như thế đã đủ chưa?
3. Bẵng đi mấy hôm,
tôi không thấy lão đâu, cái hiên nhà trở nên trống vắng lạ thường, nắng vẫn
chiếu xiên xiên nơi ấy, cái bức tường màu trắng, có lẽ là vôi vẫn bừng lên mỗi
ráng chiều.
Ông lão đi đâu.
Tại sao tôi không
dừng lại gõ cửa và hỏi, nhưng để làm gì, tôi với lão có quen biết nhau đâu,
những người trong căn nhà ấy sẽ cho rằng tôi điên, hẳn vậy. Có thiếu gì những
chuyện người ta phải làm, phải nghĩ, nhiều lắm, những hóa đơn từ tháng trước
chưa thanh toán, khoản nợ đã đến kỳ đáo hạn... còn nếu chủ nhà là một người phụ
nữ đẹp thì rất có thể chị ấy đang phân vân về lời đề nghị đổi tình để lên chức
trưởng phòng mà hơn tháng nay lão sếp
già vẫn đem ra gạ gẫm. Rồi cái hóa đơn viết khống đang chờ duyệt, lại còn vụ
chuyển công tác cho đứa em từ huyện ra thành phố nữa chứ...Đau đầu lắm, hơi đâu
mà đi tiếp một gã gàn dở đến chỉ để hỏi thăm - một người không quen.
Nhưng chẳng hiểu
sao tôi vẫn muốn biết ông lão đã đi đâu.
Một tuần nữa lại
trôi qua, thực ra tôi cũng chẳng để ý xem có phải thế không vì đối với tôi ngày
tháng không phải là thứ đáng lưu tâm, chỉ là vì hôm nay vợ tôi không đi làm, cô
nàng dậy muộn sau một đêm hoang dại và nói với tôi rằng giá như lần nào cũng
vậy, rồi lại nằm ườn ra, lười biếng.
Mưa.
Bên cửa sổ tôi ngồi
một mình nhìn ra ngoài, cả một khoảng sân ướt. Có khi nào ai đó nhìn mưa mà
thấy ấm trong lòng, chắc không, vì mưa thường lạnh, lại còn gió nữa, ôi cơn mưa
mùa Đông.
4. Đúng vậy! Chẳng
có ai nhìn mưa mà thấy ấm cả, ta đây đã bao lần cùng mưa, có cơn mưa ấu thơ
liêu xiêu dáng mẹ trên bờ ruộng mỏng sau buổi chợ chiều. Ta chỉ chăm chăm đòi
quà mà chẳng thấy áo mẹ đã ướt cả, môi xám đi vì lạnh, cũng chẳng biết rằng
những đồng tiền cuối cùng chỉ đủ để mua vài bơ gạo tháng ba cho cả nhà vào cái
buổi chiều mưa lạnh ấy.
Lại có cơn mưa rừng
của những ngày trai trẻ vượt Trường Sơn, chả lo mình chỉ sợ ướt lá thư của cô
bạn nghèo nhà ở cuối thôn mà bạn ta chưa kịp đọc thì đã vội nằm xuống. Mi có
biết không?
À chắc mi đang hỏi
rằng ta đi đâu?
Ta có đi đâu. Ta
đang ở đó thôi, chỉ là mi không tỏ? Hay mi chỉ thấy cái vệt nắng vàng trát lên
nền vôi trắng ấy, mi tưởng rằng đã thấy ta nhưng thực tình mi chỉ thấy hình
dáng ta mà thôi, và rõ ràng mi chưa một lần nhìn thấu và đặc biệt nhất ấy là mi
chẳng biết ta là ai.
Nhưng mà thôi, trời
vẫn đang mưa mà, hãy kiên nhẫn thêm một chút, mà không thì rồi nắng cũng sẽ
lên, lúc ấy, hẳn là mi sẽ lại khoác bộ cánh mà mi cho là được nhất lên người,
lặng lẽ tìm cái ổ khóa đã rất cũ, rồi đi.
5. Tôi đi thật,
nhưng không đợi đến khi trời nắng, mưa vẫn rơi, nhẹ thôi song dai dẳng mịt mờ,
đến độ tôi cũng chẳng biết khi nào thì hết.
Trong làn xám xịt
ấy tôi lại thấy căn nhà nhỏ màu trắng nọ vẫn không cô đơn, nó tỏa ra một sự ấm
áp từ bên trong, tất nhiên là tôi chẳng thấy ai trước hiên nhà. Có một nỗi buồn
không hiểu từ đâu bỗng xâm chiếm tâm can tôi, nó lặng lẽ tràn vào rồi ứa ra
thành những giọt nước mắt, giá có ai nhìn thấy tôi lúc đó, một gã nhếch nhác
cầm ô đứng dưới mưa bên đường hẳn họ sẽ lắc đầu ngán ngẩm.
Hồi lâu, có tiếng
chuông chùa ở đâu vọng lại, êm đềm xa vắng, báo rằng đã đến lúc thu không, muộn
rồi, ngày sắp tàn.
Tôi lặng lẽ quay
mình, đi ngược lại con đường ban nãy, vẫn mưa. Được vài bước tôi ngoảnh lại, vô
thức thôi vì nào có ai ở đó. Nhưng thật kỳ lạ, chính vào cái khoảng khắc ấy tôi
bỗng thấy trong làn mưa cái mái hiên đầy nắng có một người đang ngồi đó với cái
nhìn vô định, xa xăm.
Là tôi.
Hết.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét