Thứ Hai, 17 tháng 8, 2015

PHỐ CHỢ KỲ LỪA

PHỐ CHỢ KỲ LỪA





Tạp văn

Nếu là khách phương xa lên miền biên viễn, thì sau khi qua thị trấn Đồng Mỏ độ hai chục cây số bạn sẽ thấy không khí quanh mình trở nên khác hẳn: Trong lành và tươi mát. Ấy là bởi bạn đã lên đến độ cao trên 500m so với mực nước biển rồi đấy. Độ chục phút sau, một ga tàu lửa rất cũ sẽ hiện ra trước mắt; ga Bản Thí, thì xem như bạn đã đặt chân đến thành Lạng, vì chỉ độ mươi cây số nữa thôi bạn sẽ được ghé thăm phố chợ Kỳ Lừa.
          Vào thời ông Thân Công Tài cùng thuộc hạ chưa lên kế hoạch mở mang thương mại, thành Lạng hẳn còn rất đìu hiu, cái thung lũng nằm giữa bốn bề đồi núi được tô điểm bởi dòng sông Kỳ Cùng uốn lượn chưa thể gọi là sầm uất. Những đoàn sứ bộ của cả hai nước lân bang qua lại nơi bến đá, chắc cũng chỉ có một cảnh quen thuộc ấy là lau lách đìu hiu và con thuyền nhỏ của ngư ông hững hờ neo nơi bến vắng.
Nhân nhắc đến sứ bộ, chẳng hiểu sao trong tôi lúc nào cũng gợi lên hình ảnh đoàn người mệt mỏi, cặm cụi đi giữa trùng điệp núi đồi. Người được giao trọng trách thay mặt thiên tử, thay mặt bá tánh đi gặp vua chúa xứ người ấy hẳn phải là một bậc nhân tài hiếm có trong đời. Tôi chẳng muốn nói nhiều đến công việc ngoại giao của họ, cái làm tôi nhớ hơn cả là trong con người của những bậc danh tài ấy luôn có một khoảng lớn dành cho thi phú, chẳng vậy mà đã có một Phùng Khắc Khoan tài tử đã tình cờ gặp gỡ và ngâm vịnh cùng tiên Liễu Hạnh tại vùng đất biên ải này.
Truyền thuyết chỉ nói trạng Trình khi đi sứ Trung Hoa trở về ngang qua khu rừng đào thuộc Đoàn Thành thì gặp một người con gái xinh đẹp ngồi nghỉ dưới gốc cây, họ Phùng thấy nàng má hồng mắt biếc bèn buông lời ong bướm, chẳng ngờ thôn nữ nọ lại đối đáp thông minh trôi chảy, khiến ông trạng phải mười phần nể phục. Họ Phùng lúc ấy đâu biết mình có phúc lớn được tiếp kiến với thần tiên, chỉ mãi sau này khi đã về đến Thăng Long, Phùng Khắc Khoan lại có dịp tái ngộ với Liễu Hạnh và nhận ra sự thật, để rồi ngỡ ngàng như trong giấc mơ.
Hôm nay, có người khách lãng du tình cờ nghe được giai thoại ấy bỗng cũng thầm muốn một lần được gặp tiên nữ, chẳng biết nàng đang ở nơi đâu giữa miền biên viễn quanh năm mây phủ này?
          .....
Ai lên xứ Lạng cùng anh
Bõ công bác mẹ sinh thành ra em...

Câu ca dao chẳng biết có tự khi nào mà thủa nhỏ tôi đã thuộc làu qua lời ru của bà, của chị, vậy mà cũng có khi, bởi dòng đời trôi đẩy khiến tôi quên bẵng đi mất -  nơi ấy- quê hương mình lại ềm đềm đến vậy.
Có dịp ghé thăm Xứ lạng hôm nay du khách thật khó hình ung ra được chính nơi đây chỉ cách nay vài thập kỷ, chợ Kỳ Lừa vào phiên thú vị đến thế nào. Người ở bản xa đi từ lúc gà gáy canh ba, đến gần chợ mới rẽ vào bụi cây đám cỏ nào đó thay áo mới, vấn tóc, soi gương.  Đi chợ không hẳn để bán mua, có khi chỉ vì nhớ cô gái bản mà đến, lại có khi chỉ là bởi hàng cao đai* nấu khéo nơi gốc dã hương già mà tìm về. Đông vui, tấp nập, này là sắc xanh của áo chàm, với nông thổ sản trên vai xuống, nọ là bóng áo nâu thấp thoáng ấy là những người miền xuôi mang theo muối, cá khô lên...để đổi lấy những sản vật của núi rừng.
Chợ không có cổng vào, cũng chẳng bảng tên, nhưng hễ nói đến là ai cũng biết, bởi nó họp trên cả một vùng rộng lớn của Lạng thành.
          Đền thờ người có công mở mang phố chợ nằm trên đỉnh một con dốc dài, hàng năm cứ vào mùa Xuân người dân ở đây lại mở hội tưởng nhớ ông. Cuối con dốc ấy có một địa danh nghe khá lạ tai; Giếng Vuông, lạ là bởi hễ nói đến giếng hẳn ai cũng nghĩ ngay đến cái miệng hình tròn. Nhưng riêng nó quả là vuông thật, nằm ngay sát con suối nhỏ chảy xuyên qua chợ, một thời là nguồn nước sinh hoạt của cư dân quanh vùng, giếng bây giờ không còn.
Chợ xứ Lạng hôm nay khang trang, to rộng, nhiều hơn nhưng đã mất rồi cái gọi là bản sắc, chỉ còn hai ba dãy phố nhỏ nằm nơi khuất nẻo là còn bày bán dăm ba thứ hàng do người dân bản địa trồng trọt hoặc sản xuất ra, tôi gọi đó là sự níu kéo cuối cùng.
Khách đến Lạng Sơn bây giờ biết nhiều hơn đến chợ Tân Thanh, Đông Kinh hay chợ Đêm, với đặc trưng là hàng điện tử,  may mặc của Trung Quốc.
          Cũng may, vẫn còn đó những đặc sản không thể trộn lẫn của nơi đây, ấy là món vịt quay béo ngậy bày bán nhiều nơi, mà đình đám hơn cả chính là dãy hàng ở cuối đường Bắc Sơn bây giờ. Hay là hàng coongs phù chỉ xuất hiện vào những chiều Đông và đôi khi vẫn sáng đèn lúc đã khuya lắm. Lại thương cô gái nhỏ thu mình trong giá rét gắng đợi thêm người khách muộn.
Dạo chợ Kỳ Lừa xong thật là thiếu xót nếu không tản bộ qua cây cầu nhỏ để sang bên kia sông, cầu này mang tên chợ, nhưng dân gian vẫn gọi là cầu sắt, đơn giản vì nó được xây dựng hầu hết từ thứ kim loại này. Với tôi, nó là một trong những cây câu đẹp nhất, nhỏ thôi nhưng rắn rỏi, cũng không kém phần điệu đà bởi hai dãy lan can dành cho người đi bộ, tôi chắc ai, nếu một lần đứng ở đó, trên cầu, ngắm hoàng hôn đang buông dài phía đại ngàn hẳn sẽ rất khó quên.
Lại nữa, chỉ ngắn thôi nhưng ở hai bên đầu cầu là hai địa danh tâm linh nổi tiếng, bờ Bắc có đền Kỳ Cùng được biết đến bởi sự linh thiêng ít thấy, đền thờ thần giao longs với một điển tích nhiều tình tiết bi ai. bờ Nam là nơi tọa lạc của ngôi chùa cổ có tên Diên Khánh, tục gọi  chùa Thành. Mà tôi cũng thích cái tên tục hơn, nó mộc mạc, gần gũi, nhưng lại đầy vẻ tôn nghiêm thuần khiết. Ngày trước, tôi hay đi lễ chùa, đi chẳng phải cầu gì, chỉ cần được nghe thoang thoảng mùi hương trầm ngan ngát trong gió sớm. Là có đôi phút tĩnh tâm mà ngẫm nghĩ sự đời, cũng có khi chỉ mong nhìn thấy bụi mẫu đơn đang trổ bông bên bờ tường rêu phong cũ kỹ mà thôi.
Nay, thì chẳng muốn nữa bởi dù cố tìm nhưng không thấy cái gọi là đi vãn cảnh chùa, sư sãi thì cưỡi xe sang, ở phòng máy lạnh, xài đồ xa xỉ mà không chút bận tâm. Phật tử chỉ chăm chăm cầu lộc, cầu vinh...khấn vái, xin xỏ chẳng chút ngượng mồm nơi cửa Phật, nghĩ mà thương thay cho những kiếp người.
Mà thôi, ta đi tiếp, đến khu bờ Nam của thành Lạng, người dân vẫn gọi là bên Tỉnh, nơi có những dãy phố dài, thẳng tắp, vỉa hè còn rộng hơn lòng đường, cây xanh phủ bóng mát quanh năm. Chỗ này là do người Pháp sau khi chiếm Lạng sơn đã cho xây dựng làm khu hành chính, nhà ở cho quan chức thời đó.
Ngồi nhấm nháp cốc trà nóng thơm ngát trên hè phố, dưới nắng mai tràn ngập của một ngày Đông, tôi nghĩ về tầm nhìn của người đã được giao trách nhiệm quy hoạch đô thị cho Lạng sơn hơn trăm năm trước. Để đến tận bây giờ, trong mắt tôi, nơi đây vẫn là một trong những thành phố đẹp nhất miền Bắc, cái nhìn của bậc tiền nhân sao khác làm vậy so với lũ cháu con sau này.
Thoáng chốc, lại đã tàn ngày, nắng chiều chiếu xiên xiên trên những dãy tường thành còn vương lại dọc hè phố khiến cho tâm trạng của người lữ khách bỗng trở nên chơi vơi, xa vắng, những thành xưa lối cũ, bóng liễu bờ lau... giờ ở nơi đâu.


Hết.


Bế Mạnh Đức

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2015

ÔNG LÃO NGỒI DƯỚI HIÊN NHÀ

ÔNG LÃO NGỒI DƯỚI HIÊN NHÀ

Truyện ngắn của Bế Mạnh Đức





1. Không nhớ là từ bao giờ, nhưng cứ mỗi lần đi ngang qua chỗ ấy tôi lại thấy ông lão lặng lẽ ngồi dưới hiên ngôi nhà đó. Nằm một mình nằm giữa vùng cỏ xanh nhưng tôi không thấy vẻ cô đơn từ nó, trái lại,cái cảm giác gần gũi, thân thiết bao quanh ngôi nhà luôn khiến tôi nhẹ lòng.
Vào những ngày Đông hửng nắng, ông lão, với tấm áo bông to sù ngồi giữa cái vệt nắng vàng sậm, từ lâu đã trở nên thân thuộc với tôi. Dù vậy, tôi chưa bao giờ nhìn rõ mặt ông, đôi mắt lại càng không, vì có thể thời gian đi qua đó quá ngắn, mà cũng có thể tôi không chủ tâm, chỉ biết rằng ông lão hay trông về một hướng và ánh mắt ấy rất xa xăm, nhưng tuyệt nhiên chẳng có chút ưu tư nào cả, có vẻ như mọi thứ không tồn tại trong cái nhìn ấy.
Có đôi lần khi đã đi qua rồi tôi bỗng ngoái lại, giống như những khi chợt trông thấy một giai nhân ngang qua mình, tôi cứ chờ một cái liếc mắt từ phía ấy, nhưng ông lão vẫn dửng dưng. Nhiều lúc tôi đồ rằng lão đã mất cảm giác, hay ít ra là mất trí nhớ, chẳng còn biết gì xung quanh, nhưng rồi ý nghĩ đó nhanh chóng bay đi vì cái dáng ngồi ấy, gương mặt ấy, cả đôi mắt tôi chưa một lần trông tỏ nữa, tất cả đều cho tôi một xúc cảm lạ lùng, nó giống như sự bình yên hiếm có trong cuộc đời.


2. Ta biết mi đang nghĩ gì,có phải mi từng cho rằng ta là một lão già tật bệnh, ngồi đó chẳng hơn gì đống cỏ khô ngoài bãi sông sau vụ mùa. Rằng ta có cũng được mà chẳng cũng không sao! Ồ không, chắc chắn không, cái lưng mi đã cho biết tất cả, nó bảo rằng không phải vậy, và ta còn thấy mi đang mang một dấu hỏi rất lớn về ta.
Ta biết vậy vì ngày nào nào mi chẳng đôi lần qua đây, có hôm mi vừa đi vừa khe khẽ hát một khúc tình ca xưa cũ nào đó, rất có thể lúc ấy mi vừa ứng được chút tiền còm. Còn khi nào mi chậm chạp bước, vừa đi vừa ngẫm ngợi, cái đầu nặng nề cúi xuống như đang kéo cả thân mình, hẳn làmi mới bị cho thôi việc, vì cái tội cãi lại cấp trên mãi không sữa được.
Ta lại còn biết rằng đã hơn năm nay mi chỉ nằm dài bám váy vợ, một cô nàng chăm chỉ và rất yêu người đàn ông của mình. Ta biết vậy vì cứ vào mỗi chiều muộn, ta lại thấy ánh mắt của cô ấy lấp lánh vui vì sắp được gặp chồng.
Còn mi.
Hẳn là vậy rồi, mi vẫn cho rằng lẽ ra với tài năng của mình thì mi phải ở một nơi khác, một chỗ nào đó chỉ toàn là những bậc quyền quý, những tài tử giai nhân, những nhà cao cửa rộng, lên xe xuống ngựa, chứ chẳng phải quanh quẩn trong cái căn nhà cấp bốn cũ rích rêu xanh có giàn mướp lưa thưa trái mỗi độ Thu về nọ.
Rồi có khi cao hứng mi lôi giấy bút ra tập ghép vần và gọi đó là thơ, những con chữ thờ ơ nông cạn cũng giống như cái tầng tư duy của ngươi vậy, ta không trách gì ngươi vì ta biết dù có cố thế nào đi nữa mi cũng chẳng qua nổi nó đâu. Cái mà ai cũng phải sống cùng với nó, có khác chăng là có người thì nhìn hoặc cảm thấy nó, nhưng có người không bao giờ biết đến nó, tội nghiệp thay cho những ai như thế.
Lại có người còn tự xây cho mình cái bức tường thành ấy để rồi mãi mãi chỉ ngồi trong đó mà biết vậy, mà yên tâm vậy.
Ta lại còn nghe nói mi chưa bỏ được cái tật chắp tay sau đít vừa đi quanh nhà vừa đọc cái mớ chữ lộn xộn nọ bằng chất giọng khê nồng hiếm có, cũng may,chỉ có vài tay bạn nhậu là phải chịu đựng mà thôi.

Như thế đã đủ chưa?

3. Bẵng đi mấy hôm, tôi không thấy lão đâu, cái hiên nhà trở nên trống vắng lạ thường, nắng vẫn chiếu xiên xiên nơi ấy, cái bức tường màu trắng, có lẽ là vôi vẫn bừng lên mỗi ráng chiều.
Ông lão đi đâu.
Tại sao tôi không dừng lại gõ cửa và hỏi, nhưng để làm gì, tôi với lão có quen biết nhau đâu, những người trong căn nhà ấy sẽ cho rằng tôi điên, hẳn vậy. Có thiếu gì những chuyện người ta phải làm, phải nghĩ, nhiều lắm, những hóa đơn từ tháng trước chưa thanh toán, khoản nợ đã đến kỳ đáo hạn... còn nếu chủ nhà là một người phụ nữ đẹp thì rất có thể chị ấy đang phân vân về lời đề nghị đổi tình để lên chức trưởng phòng  mà hơn tháng nay lão sếp già vẫn đem ra gạ gẫm. Rồi cái hóa đơn viết khống đang chờ duyệt, lại còn vụ chuyển công tác cho đứa em từ huyện ra thành phố nữa chứ...Đau đầu lắm, hơi đâu mà đi tiếp một gã gàn dở đến chỉ để hỏi thăm - một người không quen.

Nhưng chẳng hiểu sao tôi vẫn muốn biết ông lão đã đi đâu.

Một tuần nữa lại trôi qua, thực ra tôi cũng chẳng để ý xem có phải thế không vì đối với tôi ngày tháng không phải là thứ đáng lưu tâm, chỉ là vì hôm nay vợ tôi không đi làm, cô nàng dậy muộn sau một đêm hoang dại và nói với tôi rằng giá như lần nào cũng vậy, rồi lại nằm ườn ra, lười biếng.

Mưa.

Bên cửa sổ tôi ngồi một mình nhìn ra ngoài, cả một khoảng sân ướt. Có khi nào ai đó nhìn mưa mà thấy ấm trong lòng, chắc không, vì mưa thường lạnh, lại còn gió nữa, ôi cơn mưa mùa Đông.




4. Đúng vậy! Chẳng có ai nhìn mưa mà thấy ấm cả, ta đây đã bao lần cùng mưa, có cơn mưa ấu thơ liêu xiêu dáng mẹ trên bờ ruộng mỏng sau buổi chợ chiều. Ta chỉ chăm chăm đòi quà mà chẳng thấy áo mẹ đã ướt cả, môi xám đi vì lạnh, cũng chẳng biết rằng những đồng tiền cuối cùng chỉ đủ để mua vài bơ gạo tháng ba cho cả nhà vào cái buổi chiều mưa lạnh ấy.
Lại có cơn mưa rừng của những ngày trai trẻ vượt Trường Sơn, chả lo mình chỉ sợ ướt lá thư của cô bạn nghèo nhà ở cuối thôn mà bạn ta chưa kịp đọc thì đã vội nằm xuống. Mi có biết không?
À chắc mi đang hỏi rằng ta đi đâu?
Ta có đi đâu. Ta đang ở đó thôi, chỉ là mi không tỏ? Hay mi chỉ thấy cái vệt nắng vàng trát lên nền vôi trắng ấy, mi tưởng rằng đã thấy ta nhưng thực tình mi chỉ thấy hình dáng ta mà thôi, và rõ ràng mi chưa một lần nhìn thấu và đặc biệt nhất ấy là mi chẳng biết ta là ai.
Nhưng mà thôi, trời vẫn đang mưa mà, hãy kiên nhẫn thêm một chút, mà không thì rồi nắng cũng sẽ lên, lúc ấy, hẳn là mi sẽ lại khoác bộ cánh mà mi cho là được nhất lên người, lặng lẽ tìm cái ổ khóa đã rất cũ, rồi đi.

5. Tôi đi thật, nhưng không đợi đến khi trời nắng, mưa vẫn rơi, nhẹ thôi song dai dẳng mịt mờ, đến độ tôi cũng chẳng biết khi nào thì hết.
Trong làn xám xịt ấy tôi lại thấy căn nhà nhỏ màu trắng nọ vẫn không cô đơn, nó tỏa ra một sự ấm áp từ bên trong, tất nhiên là tôi chẳng thấy ai trước hiên nhà. Có một nỗi buồn không hiểu từ đâu bỗng xâm chiếm tâm can tôi, nó lặng lẽ tràn vào rồi ứa ra thành những giọt nước mắt, giá có ai nhìn thấy tôi lúc đó, một gã nhếch nhác cầm ô đứng dưới mưa bên đường hẳn họ sẽ lắc đầu ngán ngẩm.
Hồi lâu, có tiếng chuông chùa ở đâu vọng lại, êm đềm xa vắng, báo rằng đã đến lúc thu không, muộn rồi, ngày sắp tàn.
Tôi lặng lẽ quay mình, đi ngược lại con đường ban nãy, vẫn mưa. Được vài bước tôi ngoảnh lại, vô thức thôi vì nào có ai ở đó. Nhưng thật kỳ lạ, chính vào cái khoảng khắc ấy tôi bỗng thấy trong làn mưa cái mái hiên đầy nắng có một người đang ngồi đó với cái nhìn vô định, xa xăm.
Là tôi.


Hết.

Thứ Năm, 6 tháng 8, 2015

VÀI Ý VỀ SÁNG TÁC

Bạn thân mến!

Tôi viết những dòng này mang tính chia sẻ rất vô tư.

Những câu chuyện mà tôi viết từ tháng 7 -2015 trở về trước nó mang tính bản năng là chủ yếu, tôi không biết chút gì gọi là kỹ thuật xây dựng một câu chuyện, có chăng chỉ là bắt chước theo một nhà văn nào đó và đặt bút thôi. Thế nên nếu để ý bạn sẽ thấy nó giống như những sản phẩm được làm của một người thợ không qua trường lớp, hầu như tất cả đều mắc lỗi, từ nội dung cho đến hình thức, thậm chí là cả câu từ, ý tứ v v...
Về sau này, khi may mắn có được chút ít kiến thức về sáng tác tôi mới nhận ra và bắt đầu làm việc theo phương pháp, tất nhiên tôi không phủ nhận cái năng khiếu sẵn có, nhưng nếu kết hợp được cả hai thì sản phẩm chắc chắn sẽ tốt hơn.
Tôi cũng được chứng kiến những bè bạn cũng được trang bị kiến thức khá đầy đủ, nhưng viết thì vẫn vậy thậm chí còn khô hơn là lúc chưa có gì, điều này khiến tôi liên tưởng đến những ca sỹ. Có người hát rất đúng kỹ thuật, đúng bài bản nhưng ta nghe mà chẳng thấy hay, vì họ đã quên một thứ đó là cảm xúc. Văn chương có lẽ cũng vậy.
Thế thì cái kiến thức ấy là gì?
Vâng, mỗi ngày sẽ là một chủ đề, ta sẽ cùng nhau trao đổi.
Hôm nay ta sẽ bắt đầu từ đầu.

1- MỘT CÂU CHUYỆN ĐƯỢC RA ĐỜI

Chắc chắn nó sẽ bắt nguồn từ một ý tưởng, có thể là một trải nghiệm trong cuộc sống, hay một câu chuyện của ai đó ( tình yêu, công việc, tình cảm gia đình...) và bạn thấy rất thích cái ý tưởng đó. Bạn muốn biến nó thành một câu chuyện, nhưng...

Có bao giờ bạn tự hỏi mình; Ta viết câu chuyện này để làm chi, nó có đủ sức nặng khi ra đời hay không? Vấn đề mà ta định gửi đến người đọc là gì, có thuyết phục không..v..v...
- Nếu ý tưởng của câu chuyện chỉ dừng lại ở mức thỏa mãn riêng cá nhân bạn thì tôi tin rằng nó cũng chỉ dừng lại trong phạm vi của bạn mà thôi.
- Cái ý tưởng này liệu có sáo mòn không? ( ví dụ ca ngợi Đảng, Bác Hồ kính yêu...) người ta đã làm chưa? Họ làm thế nào, và đến lượt ta ta sẽ làm thế nào, liệu có hơn họ không? Nếu bạn không giải quyết được vấn đề này thì tác phẩm của bạn sẽ...rất bình thường.

LẠI TIẾP TỤC CHÉM GIÓ

Sau khi có được cái ý tưởng tương đối ngon rồi, tôi nghĩ đến việc thể hiện nó, bằng cách nào đây? Một truyện ngắn? Một bài thơ? Một bài...etc.. Ờ thì mình có sở trường về cái gì thì làm cái đó.
Truyện ngắn nhé!
Thế nào là một truyện ngắn? Có khá nhiều định nghĩa. Người thì lấy số lượng từ để nói về nó ( khoảng dưới 1 vạn từ, thì gọi là truyện ngắn, trên thì gọi là t vừa, > nữa thì là t dài...rồi đến tiểu thuyết...đại thuyết vv,...).
Người thì cho rằng truyện ngắn tức là kể một câu chuyeeenj một cách ngắn nhất có thể.

ờ... thế thì truyện ngắn có gì? Nội dung, chắc rồi, tình tiết, chắc rồi, sắp xếp bố cục, có rồi,. à suýt quên nhân vật.
Một truyện ngắn hay trước hết là nó phải cuốn hút người đọc, đừng vội mơ mộng về một cái gì đó cao cả, to tát mà mình muốn gửi gắm trong đó. Nó phải khiến đọc giả bị thu hút theo những dòng chữ đã.
Làm sao để thu hút đây? Ờ, thế thì nó phải lạ, phải mới, phải không sáo mòn...phải khác đi ví dụ: cô a mắt bồ câu - ôi thường quá, nhiều, nhiều người nói rồi. Thử viết: đôi mắt của A làm tôi phải sững lại khá lâu... ví dụ thôi, chưa thực sự thuyết phục.
Lạ thế nào - xin lấy một ví dụ gần gũi: Truyện ngắn Ngiệp rừng của tác giả Triệu Hoàng Giang cho ta một cái nhìn lạ; Đó là cuộc đối thoại giữa chủ nhân và cây súng săn xuyên suốt cả câu chuyện, chưa cần biết diễn biến ra sao nhưng điều đó đã khiến người đọc phải tò mò rồi.
Hôm nay thế đã!

Thứ Tư, 5 tháng 8, 2015

CÙNG NHỮNG NGƯỜI BẠN THÂN YÊU CỦA TÔI !

Bạn thân mến!

Nếu bạn có ghé thăm, thì hãy để lại lời nhắn, những ý kiến thẳng thắn cả về nội dung tác phẩm ( tất cả mọi thứ từ tiêu đề, nội dung câu chuyện, cách thể hiện, cái nào được, cái gì chưa...,) rồi thì hình thức của blog ( màu chữ, cỡ chữ, đã dễ đọc hay chưa...)

Được như thế tôi vui lắm thay! Xin cảm ơn!





QUAN BIỆN LÝ ( truyện dài có màu sắc tình báo )

QUAN BIỆN LÝ



Truyện dài của Bế Mạnh Đức

Câu chuyện xảy ra vào những năm đầu thế kỷ 20. Tại một vùng núi phía Bắc Việt Nam.
          Vi Khánh, chàng thanh niên trẻ tuổi, sau khi tốt nghiệp tú tài và có một thời gian tu nghiệp tại Tòa Khâm sứ, anh về làm việc trong tổng Giang Hà với chức danh biện lý. Vốn có cảm tình với những người yêu nước anh đã nhiều lần sử dụng vị trí công tác của mình giúp họ thoát khỏi những hiểm nguy mà họ đang gặp phải.

Sau đó, theo dòng thời cuộc anh tiếp tục với những nhiệm vụ mới, có lẽ sẽ được nói đến trong phần 2 .



MỘT –PHỦ ĐỒNG GIÁP


Trong dinh quan tuần phủ, mấy tên lính khố xanh đang dẫn một phạm nhân đi ngang trước sân, người này máu me bê bết, quần áo rách rưới, chắc bị đòn đau nên chẳng nhấc nổi chân. Cứ được vài bước chúng lại phải xốc nách mà kéo đi.
Quan tuần mặt vuông, râu rậm thong thả nhấp hớp trà, sau tiếng chít đầy khoan khoái ông ta quay sang người đối diện, một chàng trai cương nghị song ánh mắt lại đầy vẻ ưu tư.
-         Tên kia là đồ đảng của bọn phản loạn, chẳng hiểu chúng ăn gì mà cứng đầu chưa từng gặp, đã dùng đủ mọi hình mà vẫn không hé môi, cũng bởi vụ này mà tôi cho mời quan biện xuống, may ra có cách nào dò được bọn đầu đảng chăng...
Bỏ lửng câu nói, ông ta nhấp thêm hớp nước nhìn người kia vẻ chờ đợi. Người nọ hắng giọng nhìn ông:
-         Bẩm quan lớn, thực tình tôi chưa đọc xong hồ sơ của chúng nên tạm thời chưa có sách lược nào, xin quan lớn cho vài hôm xét kỹ thêm giấy tờ cũng như trực tiếp đối diện với chúng, may chăng có thêm được bằng cớ . – Người nọ lễ phép trả lời.

Quan tuần ngả người vẻ hài lòng, từ hôm viên biện lý đến đây ông hoàn toàn thấy thoải mái, đã nhiều lần tiếp xúc với bọn Tây học ông nhận thấy rằng dù có là bề dưới nhưng chúng vẫn cậy có chữ của mẫu quốc nên vẫn chẳng coi các quan ra gì. Còn người này, tuy đối đáp thông minh, phong thái đĩnh đạc nhưng lại rất khiêm tốn, tác phong mang dáng dấp người tây phương nhưng cử chỉ, giao tiếp lại rất chừng mực, có đôi chỗ còn phảng phất cái hồn Nho giáo. Chỉ là mới sơ giao nhưng ông đã có nhiều phần cảm mến.
Sau vụ ám sát nhà cai thầu phu mỏ người Pháp, bọn phản loạn phải chạy dạt đi khắp nơi nhằm trốn tránh sự truy lùng của nhà nước. Nhận được trát của quan trên ông cũng cho người đi lùng sục, dù chẳng hy vọng gì. Run rủi thế nào, đám khố xanh trong phủ của ông lại tóm được mấy tên đang trên đường bôn tẩu. Biết chúng là thành phần quan trọng,sau khi nhận được báo cáo của ông, quan trên đã cử người về.
Và thế là biện lý Khánh có mặt ở đây.

*
*   *

Vi Khánh đi lại trong phòng vẻ đăm chiêu, bên ngoài trời lâm thâm mưa, dinh quan tuần rộng, mấy tòa ngang là chỗ bọn lính ở, phòng phía Tây này dành riêng cho anh. Nhìn cách vị quan này cư xử anh biết ông ta đang dành cho mình những biệt đãi hiếm có, nhưng càng như vậy, Khánh càng thấy khó, vụ bọn phản loạn chắc chắn không hề dễ dàng. Đã ba hôm công việc không mấy tiến triển, bọn chúng đã không kiềng đòn roi thì chúng sợ gì anh vốn chỉ là một kẻ mọt sách. Hôm qua, theo lời Khánh, lính đã thôi đánh đập, hôm nay anh lại bảo viên lục sự tăng thêm khẩu phần ăn cho chúng, chỉ có vậy thì ngày mai hoặc ngày kia chúng mới có sức mà tiếp cung anh.
Mặc dù không ra thời hạn nhưng anh hiểu sự nóng lòng của viên quan đầu tỉnh, chẳng gì anh cũng là người có chữ nghĩa lại đã tham gia nhiều vụ, không trách được sự kỳ vọng mà ông ta đặt vào anh.
Khác với những loại tội khác,  chính trị phạm rất khó khuất phục họ bằng bạo lực, kinh nghiệm cho Khánh biết rằng, muốn có kết quả thì phải làm sao cho những người ấy tâm phục, đến lúc ấy may ra họ mới hợp tác phần nào. Đó cũng là lý do anh muốn có thêm thời gian.
Đang lúc miên man suy tính thì tên lính hầu lúp xúp chạy lại bên hiên:
-         Bẩm, quan lớn cho gọi ngài sang nhà dùng bữa, xe đang đợi ngoài cổng ạ!
Vi Khánh khẽ gật đầu, đoạn quay vào sửa sang lại quần áo rồi với chiếc mũ, anh theo tên lính đi ra cổng.
Dù đã đặt cơm bên này nhưng cứ mỗi chiều quan tuần lại cho xe sang đón anh qua nhà ông ăn tối, có hôm đích thân ông đến chỗ Khánh, khiến anh muốn chối cũng chẳng xong.
Nhà quan tuần là một dinh cơ nằm bên kia sông, vốn xuất thân từ vùng Kinh Bắc nên ông cho xây dựng khuôn viên mang nhiều hơi hướng vùng xuôi, cũng hàng cau, vại nước, cũng nhà gỗ năm gian sân gạch rộng rãi.
Ngoài chủ nhà, để thêm phần rôm rả quan tuần hay cho mời các vị chức sắc khác cùng dự, âu cũng chả mấy khi được làm sang với bọn thuộc hạ khi có người của Tổng xuống làm việc.
Từ ngoài cổng, Khánh đã nghe tiếng chuyện trò vọng ra, rồi khi chiếc xe từ từ tiến vào sân thì quan tuần phủ đã đứng sẵn dưới hiên, giá như trời không mưa khá nặng hạt thì hẳn ông đã ra ngoài này mà đón anh.
-         Bẩm quan lớn ạ!
-         Bẩm quan đến chơi!
-         Mời quan ạ!
Đó là những lời mà Khánh nghe được từ đám người khúm núm đứng sau vị chủ nhà. Anh gật đầu chào rồi đưa tay ra bắt, trừ quan tuần ra thảy đều e dè, phần vì chưa quen cách chào hỏi ấy, phần vì ngại ngần. Anh cũng cảm thấy khá lạc lõng khi chỉ có mỗi mình vận đồ Tây, trong khi những người khác áo dài, khăn đóng.
Câu chuyện bên mâm rượu xoay quanh vụ án đang còn để ngỏ trong phủ, những tình tiết ly kỳ được dịp đem ra mổ xẻ. Thật gớm cho cho cái lũ cứng đầu, đường quang không đi, mẫu quốc đã có công khai trí cho những u mê của cái xứ An nam này thì việc có mộ vài ngàn phu đi làm việc cho các đồn điền cũng là xứng chứ sao. Cớ chi mà phải động thủ!
Những bộ mặt đỏ gay đang tranh nhau nói, rằng thế nào cũng cứ phải triệt hết cái giống phản loạn, rằng nhà nước bảo hộ mà nhân nhượng thì chỉ có hỏng... Tuy hăng hái làm vậy nhưng Khánh nhận thấy trong sâu đáy tâm can họ vẫn gợn lên một nỗi lo lắng mơ hồ, chẳng ai nhắc đến tờ truyền đơn mà lúc chết nhà cai thầu nọ vẫn nắm chặt trong tay, nó viết rằng: Tất cả những kẻ đang đè đầu đầu cưỡi cổ dân đen xứ này hãy xem đây là cái gương mà soi lại mình!
Mãi đến khi tàn tiệc, mấy vị chức sắc nọ đã lần lượt ra về cả, chỉ còn Vi Khánh, quan tuần mới bảo bọn gia nhân pha ấm trà ngon, sau lại sai chúng chuẩn bị bàn đèn, chủ khách hai người thảnh thơi ngồi dưới mái hiên tây. Trăng non bắt đầu  lấp ló sau rặng nhãn lồng cổ thụ.
Trong lúc chờ trà ngấm, quan tuần lặng yên ngậm tẩu, có ý chờ đợi, hiểu chủ nhà đang nghĩ gì, Khánh lên tiếng trước:
-         Bẩm quan, mọi việc tôi đã trù liệu, chắc chỉ vài hôm nữa kết quả thế nào sẽ rõ trắng đen thôi.
Quan tuần gật gù rít sâu hơi thuốc mà tên lính lệ vừa tiêm xong, rồi nhả khói đầy khoan khoái:
-         Phương cách mà quan biện làm tôi cũng có nghe qua, ấy là một mẹo trong binh pháp, cốt là hòng thu phục nhân tâm, tôi nói vậy chẳng hay có đúng không?
Khánh cũng gật đầu tỏ ý đồng tình, nhưng anh đồ rằng quan ngài có lẽ hiểu một mà chưa thấu hai, việc anh cho đối đãi tốt với tù nhân cũng chỉ là tác động phần nào đến tâm lý của họ, còn việc lấy được khẩu cung hoàn toàn nằm ở năng lực của của người thực hiện. Chẳng gì bằng hãy đặt mình vào trong hoàn cảnh của họ, mười phần thì phải có bốn năm phần là dùng cái tình đồng bào mà thăm hỏi họ, thứ nữa là khơi gợi cái ý chí đang âm ỉ cháy trong con người họ, chẳng mấy chốc nếu gặp được người thấu hiểu thì việc thổ lộ chỉ là điều sớm muộn.
-         À quan biện này, thôi việc công ta tạm gác lại, chẳng mấy khi có lúc rảnh rang thế này, à chẳng hay trước đây ngài có theo Nho học không?
Quan tuần phủ bỗng chuyển chủ đề một cách đột ngột khiến Khánh hơi bất ngờ, nhưng cái lối nói chuyện của kẻ bề trên ở xứ này vốn vẫn vậy, rất ít khi họ để ý xem trọng đối phương. Tuy không mấy hài lòng nhưng anh vẫn nhẹ nhàng:
-         Bẩm, tôi cũng có mấy năm đánh vật với chữ Hán.
Quan tuần phủ vỗ đùi:
-         Thế thì hẳn là những thi gia Đường, Tống... quan biện đã đọc qua cả?
-         Vâng, nếu không phải là bậc quá lạ lẫm thì hầu hết tôi đều được thưởng thức danh tác của họ.
Dưới bóng trăng, có thêm chất men làm nguồn cơn, câu chuyện của hai vị quan chức nhanh chóng chuyển thành buổi bình thơ đầy ngẫu hứng.
Mãi đến khi trống báo sang canh, gà khắp nơi đua nhau gáy, họ mới chia tay nhau. Vi Khánh chỉ nhớ lúc mình chếnh choáng ra xe tên lính hầu phải rất vất vả đỡ anh lên, rồi sau ấy thì chẳng còn biết gì nữa.
*
*   *

Cả ba kẻ tình nghi đều người xứ Đoài, lúc mới bị bắt chúng khai là dân sơn tràng đang trên đường lên mạn ngược làm ăn, sau khám xét mới lộ ra thẻ bài của Phục quốc đảng trong tay nải một tên. Nhằm cớ ấy bọn lính cứ nọc ra mà đánh, nhưng chẳng đứa nào nhận là đồ đảng phản loạn.
Chỉ độ non tuần trăng nữa chúng sẽ bị đem ra xét xử, nếu bị khép vào tội đồng lõa giết hại công chức cao cấp của chính phủ thì thấp nhất cũng phải nhận án khổ sai lưu đày biệt xứ.
Tập hồ sơ mà viên lục sự trình lên vẫn nằm trên bàn, dù đã đọc đi đọc lại Khánh cũng không thấy có gì mới. Bọn thám tử cũng chỉ có vài trang báo cáo sau khi về tận quê quán mấy tên nghi phạm tìm thêm manh mối. Theo đó thì một tên đã bỏ nhà đi lang bạt từ nhỏ vì nhà nghèo quá, hai tên kia cùng làng, một đứa quả đã từng hành nghề  mộc nhiều năm trên vùng sơn cước, đứa kia mới đang theo làm thợ phụ.
Về tấm thẻ bài thì hai tên trẻ hơn nói không biết, tên còn lại cứ khăng khăng là tình cờ nhặt được trên đường.

Khu nhà biệt giam nằm khuất sau dãy phòng bọn lính, có một khoảng sân ngăn ở giữa, đêm qua trời mưa khá to nên sân vẫn ướt, vài chỗ còn có nước đọng. Hôm qua một trong ba kẻ tình nghi đã qua đời.
Khánh bảo tên lính lệ lên khu trên lấy bình nước vối sau khi tên nghi phạm rách rưới đã ngồi yên trước mặt anh, hắn cũng trạc tuổi Khánh và thoáng nhìn anh đã biết đây chẳng phải người thuộc giới thợ thuyền dù có cố làm cho lem luốc.
Viên lục sự lúi húi chuẩn bị lấy giấy bút, sẵn sàng ghi chép.
-         Giơ bàn tay ra! – Anh trầm giọng – Phải rồi, cả hai... ngửa lên.
Quả đúng như vậy, những ngón tay thon dài, tuyệt không một vết chai, nếu chẳng phải dạng đầu lĩnh quản việc thì cũng thuộc hàng quân sư bày mưu tính chước.
-         Uống nước đi! – Khánh ôn tồn đẩy chiếc bát sứ về phía trước - Tôi là biện lý được quan trên cử xuống đây phối hợp với phủ tra xét việc làm của các anh- ngừng một lát Khánh tiếp - anh có biết biện lý là gì không?
Hơi ngỡ ngàng trước thái độ và cách xưng hô của người hỏi cung mình, kẻ tình nghi khẽ ngước mặt lên, trong mớ tóc bù xù bẩn thỉu hiện lên đôi mắt rực sáng và gương mặt rắn rỏi, cái nhìn của hắn tuy rất nhanh nhưng khá bình thản.
-         Bẩm quan, tôi không rõ!- Sau khi cúi xuống cái đầu bù xù trả lời.
-         Biện lý là người sẽ tìm hiểu thực tình mọi sự trong việc án, chủ yếu  góp nhặt những chứng lý nhằm giảm tội cho bị cáo, vì vậy tôi muốn anh thành tâm khai báo mọi sự hầu có cớ để tôi làm việc với quan trên cốt làm sao cho các anh được xử đúng tội nhất.
Nói xong, Khánh đứng dậy chắp tay sau lưng bước lại gần cửa sổ, nơi góc sân có cây mận già đã sắp rụng hết lá, nó khẳng khiu trước gió.
Tên nghi phạm cũng im lặng.
Khánh biết đây chính là lúc hắn đang suy nghĩ rất lung, hôm qua khi xem xét miếng thẻ có gắn mật hiệu của đảng Phục quốc anh nhận ra đó là một vật chỉ dành cho bọn thuộc hàng đầu lĩnh và việc để rơi nó không phải là chuyện dễ dàng, có thể mất đầu như chơi, thế nên việc chúng khai lượm được là không có mấy sự thật trong đó.
-         Lòng yêu nước thương nòi không phải chỉ dành riêng cho các anh, càng khó đồng tình hơn nếu ta nhân cái đó mà làm việc một cách ẩu thả không có suy xét. Việc giết hại người của chính quyền, dù là người đó có gây tội lớn đến đâu đi chăng nữa, theo tôi cũng chưa thể giải quyết rốt ráo được, ấy là chưa kể hậu họa sau đó.
Sau hồi dài nghĩ ngợi, Khánh bước lại gần tên tội phạm nói dõng dạc.
Vẫn chỉ là một sự im lặng .
-         Anh có có hiểu tôi nói gì không?
Hình như, sau câu hỏi có phần lên giọng của Khánh cái đầu bù xù bắt đầu ngọ nguậy. Rồi một tiếng thở dài khe khẽ bật ra.
Biết rằng sẽ chẳng moi được lời nào từ hắn, Khánh ngán ngẩm:
-         Thôi ta nghỉ giải lao ở đây.
Đoạn anh vẫy viên lục sự, cả hai cùng đi về phía công đường.
Đã nhiều lần tiếp xúc với những kẻ chống đối chính quyền bảo hộ, anh đều nhận thấy ở họ một sự khảng khái hiếm có, nếu như bọn giang hồ chỉ dừng lại những chữ trọng nghĩa, khinh tài thì họ có một thứ khác lớn hơn nhiều đó là lý tưởng dấn thân vì quốc gia, dân tộc. Từ lâu trong suy nghĩ của mình Khánh đã có sự nhìn nhận khác với phần lớn quan chức đang thực thi nhiệm vụ của mẫu quốc, anh không coi những kẻ phản loạn là kẻ thù mà anh xem họ như những người can đảm, đã dám làm những việc ít có trong đời. Và anh cũng nhận thấy phần lớn đó là những kẻ có tài.
Sau tuần trà, quan biện lý quay lại phòng khẩu cung, tên lính lệ lơ đễnh đứng ngoài hiên cung kính gật đầu chào. Trong phòng, kẻ tình nghi vẫn chẳng thay đổi tư thế ngồi khi nãy, khi cả hai đã vào vị trí đối diện nhau chợt hắn dướn người dùng ngón tay trỏ dúng vào bát nước vối còn đôi chút  ở đáy rồi viết nguệch ngoạch lên mặt bàn hai chữ:  “ Gặp riêng” bằng tiếng Pháp.
Phía sau lưng Khánh viên lục sự vẫn lúi húi ghi chép gì đó.
Sau khi hai ánh mắt chạm nhau khá lâu anh gật nhẹ đầu.

*
*   *

Con đường mòn vắt qua dãy núi cứ hẹp dần lại, hai bên cây cối đua chen nhau mọc trên các lèn đá, thi thoảng lại xuất hiện những vạt cỏ lau rậm rạp kéo dài hàng cây số, chúng tốt đến nỗi cứ lâu lâu bọn người đang đi lại phải lấy dao ra mở đường.
Bảy người đàn ông, bốn con ngựa thồ cắm cúi đi trong buổi sáng mùa Đông lạnh giá.
Ở cuối hàng một người vạm vỡ, gương mặt sạm màu sương gió, đang vừa đi trầm ngâm suy tính, nhìn trang phục không khó đoán đây hẳn là đầu lĩnh của đám nọ.
Anh ta là Hà Hạp, một thành viên của Phục Quốc đảng. Hạp phụ trách mảng kinh tài trên mạn ngược, người ta chỉ biết Hạp là một lái buôn có cỡ, thường xuyên đánh hàng về xuôi.
Sau khi có tin một lãnh đạo cao cấp bị giữ ở vùng này, tổ chức đã giao nhiệm vụ cho Hạp, bằng mọi giá phải cứu được ông ta ra. Nếu chậm trễ đây sẽ là một tổn thất khó lường của đảng.
Thời gian như tên bay, đã gần một tuần trăng trôi qua.
Thám báo cho hay, phó thủ lĩnh đang bị giam trong đề lao của phủ Đồng Giáp, chưa thấy có động tĩnh của việc xét xử, nếu để lâu có thể bọn quan phủ khi nắm được tung tích sẽ cho giải lên trên, nếu như vậy việc càng khó hơn.
Có một việc khá tình cờ, đó là viên biện lý, người được điều xuống phủ này phối hợp làm vụ này vốn cùng quê với Hạp, thậm chí còn là anh em họ, vị này ít nhiều có cảm tình với tổ chức, biết tin này lập tức Hà Hạp dành hẳn hai ngày bí mật về làng.
Sau khi có được lá thư của ông bác họ gửi đích tên quan biện lý, Hạp nhanh chóng trở lại Đồng Giáp.
Bây giờ, anh ta đang trên đường đến đó.

*
*   *

Nhà quan phủ hôm nay rộn rịp khác thường, tất nhiên việc quan lớn tổ chức tiệc tùng thì không phải chuyện hiếm, nhưng việc có tới hai cỗ xe hơi sang trọng từ xa đến đỗ quanh phủ thì quả là ít thấy.
Khắp nhà, từ trong ra ngoài một quanh cảnh chỉ rặt những màu của chuyện hỉ, thì hôm nay là lễ dạm ngõ của thiên kim tiểu thư mà lại.
Phòng khách rộng là vậy nhưng người ta vẫn phải kê thêm ghế ra sân, còn khá sớm nên chưa có mấy khách, chủ yếu là bọn gia nhân đi lại sắp xếp cỗ bàn. Mùi nấu nướng, tiếng hò hét sai bảo nhau của bọn đinh tráng làm náo động cả một vùng.
Trong nhà, đám người quyền  quý đang xưng tụng nhau bằng những lời có cánh, chú rể tương lai đường đường là con trai út của tổng đốc Hà Đông chứ đâu phải phường tiểu tốt vô danh .
Hai năm trước nhân một chuyến về Hà Nội công cán, quan phủ Đồng Giáp vì chiều con nên đã đồng ý cho cô đi theo. Trong một buổi chiêu đãi do ngài quan ba Henry tổ chức, tiểu thư miền sơn cước xinh đẹp đã lọt mắt xanh cậu ấm nhà quan tổng đốc. Từ đó, một năm hai đận, cậu ta lại dẫn bầu đoàn của mình rồng rắn lên tận miền này thăm nhạc phụ đại nhân tương lai.
Sau một hồi trò chuyện, quan phủ có vẻ sốt ruột, ông móc trong túi ra chiếc đồng hồ quả quýt mạ vàng, ngoài sân quan khách đang đông dần. Đoạn ông quay sang thằng hầu vẫn khúm núm đứng phía sau ông:
-         Mày ra xem quan biện đã đến chưa rồi vào đây báo ông!
Nó dạ rồi nhanh chóng đi mất.
Việc lớn thế này mà thiếu anh ta thì mất vui, chiều qua ông đã cố tình nhắc lại lời mời trước khi rời công đường, dù đã biết là hôm nay Vi Khánh sẽ có buổi làm việc quan trọng với bọn phạm. Có nhiều tình tiết mới xuất hiện, anh ta nói với như vậy, có thể sẽ không thể sang hầu ông sớm được.
Một lý do nữa mà quan phủ Đồng Giáp muốn biện lý Khánh có mặt ở đây là bởi ông muốn dùng anh làm đối trọng với những người khách đến từ miền xuôi vốn bặt thiệp và hiểu biết. Có lắm khi nghe họ xì xồ tiếng ngoại quốc với nhau rồi cười vang mà ông nóng cả mặt, biết đâu chúng lại chẳng đang chê cười gì ông chăng.

Trong khi đó, tại nhà công quán biện lý Khánh cũng vừa kết thúc buổi hỏi cung tên trưởng nhóm, gọi là một cuộc trò chuyện thì chính xác hơn. Bởi theo lời đề nghị bí mật của hắn lần trước, hôm nay chỉ có hai người trong phòng, tay lục sự đã bị anh khéo léo đẩy sang nhà quan phủ từ sớm với lý do chẳng có gì cần ghi chép cả, anh sẽ tự làm.
Chẳng mất nhiều thời gian để Khánh hoàn toàn đồng thuận với những lý lẽ đầy thuyết phục mà người tù đưa ra, lý tưởng đấu tranh vì một quốc gia độc lập lần đầu tiên anh được nghe nói đến. Cuộc chiến đấu của họ rõ ràng là một điều cao đẹp, họ không có tội gì.
Bây giờ Vi Khánh đang chỉnh tề trong bộ âu phục, với chiếc mũ phớt màu ngà voi nữa là chẳng ai nhận ra đó là viên biện lý cần mẫn của tổng Giang Hà nữa . Anh trông giống một tay công tử Hà Thành nhiều hơn.
Đang lúc định mở cửa xe thì bỗng có tiếng vó ngựa dồn dập trước cổng rồi một người nhanh nhẹn nhảy xuống.
Anh ta muốn gặp biện lý Khánh.

*
*   *


Tiếng chúc tụng, chuyện trò trong dinh quan phủ theo thời gian của buổi tiệc càng lúc càng trở nên ồn ào, người đi kẻ lại tấp nập, ai nấy mặt mũi hoan hỉ dễ thấy.
Vi Khánh được xếp ngồi cùng mâm với quan lớn, ngoài ông chú của vị công tử nọ là ngang hàng về tuổi tác với quan, còn lại toàn những người trẻ tuổi, hiểu biết nên câu chuyện đang dần đến hồi cao trào.
Bên phải anh, vị bác sỹ tự giới thiệu là bạn thân của chú rể - gọi như vậy cũng không còn sớm – anh ta vừa cười vừa nói như thế với Khánh. Khi biết trước đây Khánh đã có thời gian tập sự ở Tòa khâm sứ anh ta rất vui, dường như nhân thể muốn nâng tầm quan trọng của mình, vị bác sỹ nọ kể một loạt tên các nhân viên làm việc trong đó với Khánh. Quả thực những lời anh ta nói không hề có chút sai sót nào, ít nhất thì đây cũng là một người trung thực, Khánh nghĩ vậy.
Nhưng, có ai biết, dù ngoài mặt vẫn vui cười tiếp chuyện với khách khứa như vậy song trong đầu anh vẫn chưa thôi suy nghĩ về buổi hỏi cung hồi sáng.
Đảng Phục quốc vẫn chưa được phép hoạt động công khai, nhưng vì cương lĩnh cao đẹp của mình nên đã thu hút được khá đông thành viên tham gia. Cũng lại vì số lượng đảng viên phát triển quá nhanh nên có nơi việc kiểm soát nhân sự đã có phần lơ là.
Vụ ám sát quan mộ phu là nằm ngoài chỉ thị của đảng trưởng, việc đó do nhóm người trước đây từng có thời hành nghề thảo khấu thực hiện, thực ra là họ có xin ý kiến của thượng cấp nhưng chưa được sự đồng thuận. Trong buổi trình bày lý do hạ sát tên cai nọ, bọn kia cho rằng việc đó sẽ gây được thanh thế cho đảng, thêm nữa là cảnh báo bọn ác bá quen thói bức hại dân đen.
Tên trùm mộ phu này sang đây đã lâu, nói tiếng Việt còn sõi hơn dân bản địa, nó biết một cách tường tận những phong tục tập quán của người An nam, nó cũng hiểu rất rõ tình cảnh nghèo khổ của dân chúng. Dựa vào đó bằng mọi cách tên này đã cho người đến tận các làng quê dụ dỗ trai tráng đi phu ở các mỏ than, đồn điền cao su với những lời hứa bùi tai. Rồi sau đó khi đã đưa được người xuống tàu lập tức trở mặt, nó coi người ta còn không bằng súc vật, đã có rất nhiều thanh niên một đi không trở về, nơi làng quê xơ xác chỉ rặt những ông già bà cả và con trẻ thơ dại.
Nhiều lần đảng Phục quốc đã gửi đơn lên nhà cầm quyền, nhằm phản đối việc làm vô nhân của tên nọ, nhưng tất cả chỉ như đá ném ao bèo.
 Vậy là, vào một đêm cuối năm, mấy người kia tổ chức mai phục trước cổng nhà cô tình nhân của trùm mộ phu, đợi quá nửa đêm thì hắn ra khỏi cổng, chưa kịp bước lên xe thì một người đến trao cho hắn bản án tử hình, một người khác lập tức xả súng bắn chết ngay tại chỗ.
Nhóm kia dù chạy thoát cả, nhưng rồi nhà cầm quyền bắt đầu bố ráp, nhiều cơ sở tan rã, số người bị bắt đã lên đến trên hàng trăm. Trung ương phải cho sơ tán đảng viên đi tránh họa và đó là lý do mà những người này đang nằm trong nhà giam của phủ Đồng Giáp đây.

Những điều trên là do tên trưởng nhóm phạm nói với Khánh sáng nay, hắn cho rằng phải có người đủ tầm hiểu chuyện thì mới có thể trình bày hết nhẽ, điều thứ hai nữa hắn nói mới làm Khánh giật mình; Anh đã có tên trong danh sách những người cần phải vận động để tham gia Phục quốc đảng.
Về sự lớn mạnh cũng như tầm ảnh hưởng của tổ chức này không khiến Khánh ngạc nhiên, từ lâu anh đã có những thông tin về họ, và phải nói thực lòng là Khánh rất có cảm tình với Phục quốc. Cương lĩnh của họ đã chỉ rõ, tất cả sẽ chỉ vì nước, vì dân.
Nếu quan trên mà nắm được những thông tin vừa rồi thì bọn kia chỉ còn nước tù mọt gông. Xét cho cùng những người này chỉ có một tội đó là tội yêu nước, thương dân, họ đã bất chấp hiểm nguy, bỏ đi cả tuổi thanh xuân để dấn thân, để cống hiến.
Còn ta, đã làm được gì? Hay chỉ suốt ngày ra luồn vào cúi, ăn sung mặc sướng trong khi rất nhiều đồng bào đang chịu cảnh lầm than ngoài kia.
Càng ngẫm nghĩ Khánh càng thấy mình cần làm gì đó, phải rồi, sẽ làm điều gì đó!

*
*   *

Quan bà giục đứa ở đóng cửa buồng lại. Rồi bà bắt đầu mở những túi quà, tất nhiên phải là những bọc lớn mà cậu ấm con quan tổng đốc đem lên trước đã. Không ngoài dự đoán, trước mắt bà là những súc lụa nhập khẩu bên trời Tây mát rượi và mềm mại vô cùng. Ồ còn cái hộp gì đây? Chà một đôi kiềng rõ to có in dấu của hiệu vàng Bảo Ngân, đây là nơi mà hầu hết những nhà danh gia vọng tộc ở đất Bắc Kỳ đều tín nhiệm bởi chất lượng cũng như tay nghề của họ. Ai mà không biết!
Cái cậu thiếu gia này tuy ăn nói có phần ngạo mạnnhưng thật là biết làm vừa ý bà, thì nào có ai hoàn hảo đâu. Đổi lại, chẳng có lần nào lên chơi lại quên những thứ như thế này.
Mà, cái lão gàn dở kia cũng lắm chuyện, người ta ăn nhau ở cái vị trí, gia thế chứ, còn học hành, kiến thức suy cho cùng cũng là để kiếm ăn. Nhà cậu ấy thì còn cần chi nữa mà phải nhọc xác, có mà ăn mấy đời còn chưa hết...
-         Mẹ, mẹ ơi, mở cửa cho con với!
Như Mai vừa bước vào phòng bà vội quát con ở:
-         Mày, đóng ngay cửa cho bà, mà sao không ở ngoài đó tiếp khách vào đây làm gì hở con?
-         Mệt chết đi được, con nghỉ tý đã – Cô ngồi phịch xuống giường, bĩu môi nhìn đống quà cáp – Mẹ này, cứ thế thôi...lúc nào cũng...
-         Cái gì, cô bảo cái gì? Ừ đấy tôi tham đấy, tôi hám của đấy, nhưng tôi hỏi cô ấy là vì ai? Người ta mến cô thì người ta có lòng, thế chẳng lẽ mình không nhận à...
-         Chậc, con không nói thế, nhưng mà cũng vừa phải thôi...với lại con đã đồng ý đâu mà, tại mẹ ấy chứ...
-         Á cô này giỏi nhỉ, sách vở chữ nghĩa cho nó lắm vào rồi về cãi tôi, này tôi báo cho mà biết để liệu thân, những sách vở đồi trụy các cô truyền nhau bố cô mà biết thì...
Như mai giật mình:
-Sao mẹ bảo sao? Bố biết rồi à? Chết tại con Lành đây mà, đã dặn là phải cất kín.
Bà lườm con rồi dài giọng:
-         Chưa, là tôi bảo vậy cho cô còn cẩn trọng. Con gái lớn rồi...
-         Mẹ...
Mai chẳng trách gì bà, nhưng quả là cô chưa hề có lời nào gọi là đồng ý với cuộc sắp đặt này, dù là dạm ngõ thì coi như ván đã đóng thuyền. Cô hiểu nỗi lòng cha mình, đã nhiều lần thấy ông đăm chiêu ngoài hiên mỗi khi bàn chuyện cưới gả của cô. Ông vẫn bảo tiền bạc chưa phải là tất cả, đời người ta còn có nhiều thứ để hướng đến hơn, và cô là một trong số hiếm hoi những tiểu thư đài các ở xứ này được cho học hành. Có chữ nghĩa rồi con sẽ biết nhiều hơn, ông bảo thế.
Có khi cũng vì vậy mà vị công tử đang thù tạc ngoài kia chưa khi nào làm cô thấy ưng lòng.
Cô cần một cái gì đó khác hơn.

*
*   *

PHẦN HAI – NGƯỜI KHÁCH LẠ

Vi Khánh về đến nơi thì đã ngày đã sang chiều, thay quần áo xong anh bảo tên lính cho gọi người đến đây hồi sáng, hắn đang nghỉ ngơi ở ngoài dãy nhà công quán.
Đọc xong lá thư Khánh vui vẻ chìa tay ra:
-         Lúc nãy tôi đã ngờ ngợ, nhưng cũng lâu quá rồi còn gì, đi đường có vất vả không?
-         Dạ bẩm quan, tôi...
-         Thôi nào, cứ gọi tôi là anh được rồi!
Kể ra, ngoài chất bặm trợn của dân anh chị thì Hà Hạp cũng chẳng đến nỗi nào, nếu không muốn nói là khá chân tình.
-         Hai bác vẫn khỏe, có điều rất mong anh về để tính chuyện gia thất, chả gì các cụ cũng đã ngoài sáu mươi cả rồi.
-         Tôi cũng biết vậy, nhưng việc cứ nối việc, muốn về lắm chứ, đâu có được tự do như chú, mà tôi còn chưa rõ công việc của chú ?
Ngần ngừ giây lâu, có vẻ như không muốn tỏ thực thân phận nhưng rồi sau chén rượu Hà Hạp cũng bộc bạch:
-         Em được trời phú cho cái sức khỏe nên mười sáu tuổi đã được ông chú cho đi theo đoàn bảo tiêu, lăn lộn mấy năm những nẻo Vân Nam, Ai lao rồi Miên... đều đã qua cả, nhưng cũng bếp bênh bác ạ. Suốt ngày trên lưng ngựa đâm chém nhau sống chết chả biết thế nào...
-         Chú bảo sao? Trước từng làm bảo tiêu à? – Chợt Khánh quay sang người họ hàng xa.
-         Vâng, cũng thuộc hàng có sừng có mỏ bác ạ, nhưng cũng chẳng đi đến đâu. Sau lần ông chú bỏ mạng bên Tàu em cũng giải nghệ, giờ buôn bán lặt vặt, ăn ít nhưng đỡ hơn...
Khánh im lặng chăm chú nghe tay cựu bảo tiêu kể chuyện. Không ngờ, cũng lắm cái thú vị.
Hạp giỏi võ nghệ, có thể nhảy từ lưng ngựa đang phi nhanh sang con khác chạy song song để bắt sống đối thủ, lại còn có tài phi dao bách phát bách trúng. Trong những năm tháng trên đường hành tẩu gã gặp không biết bao nhiêu địch thủ, nhưng chỉ có ba lần là phải chịu thua.

Chuyện cứ thế kéo mãi đến lúc gà gáy sang canh họ mới giục nhau đi nghỉ.

*
*   *
Quan tuần ngồi trước bàn công vụ trong dáng bộ đầy ưu tư, thế là đã rõ cả, những người đang nằm trong nhà lao của phủ đích xác là người của tổ chức, việc này chỉ hôm qua ông mới được biết. Người mang tin đến chỉ kịp nói qua tình hình rồi nhắc lại là bằng mọi cách phải cứu được họ ra, giá như những tin này đến sớm thì có lẽ ông đã chẳng phải suy tính nhiều làm vậy.
Không phải bây giờ mà đã từ lâu, quan phủ Đồng Giáp đã bí mật qua lại với các nhóm có ý đồ phục quốc, nhưng điều có ý nghĩa nhất mà ông làm được cho họ chỉ là cung cấp tiền bạc, đôi khi là một vài thông tin nội bộ, còn những việc khác ông chưa có cơ hội. Có lẽ đây sẽ là dịp hiếm có để ông góp phần của mình cho đại nghĩa.
Ông sẽ chẳng phải làm gì ngoài việc cho giải bọn tội phạm lên quan trên, mọi việc còn lại tổ chức sẽ lo, người đưa tin đã nói với ông như vậy.
Việc bây giờ, chỉ là chờ đợi, mà thôi.

*
*   *

Nằm trong quán trọ đã ba hôm, Hà Hạp bắt đầu sốt ruột, người anh họ trông thư sinh là vậy mà thuộc hàng lớn gan, Hạp chỉ vừa ướm thử đã lập tức đồng ý ngay. Duy chỉ có một điều làm viên biện lý tỏ ý băn khoăn, đó là quan tuần phủ Đồng Giáp, việc này mà thành thì ít nhiều gì cũng sẽ khiến ông ta lao đao.
Anh ta đâu biết mọi chuyện đã được sắp đặt cả rồi.
Sau khi thống nhất kế hoạch Hạp đã nhanh chóng tập hợp được những đồ đảng tin cẩn nhất nằm phục ở trấn này, chỉ còn chờ tín hiệu là hành động.
Canh ba đêm ấy, đang thiu thiu ngủ thì có tiếng gõ nhẹ ngoài vách, rồi một bóng đen lách vào. Chỉ sau vài câu thì thào người nọ lại biến vào bóng đêm, chốc lát sau Hà Hạp nghe thấy tiếng vó ngựa xa dần.
Bên ngoài ánh trăng suông bị làn sương lạnh dần che mất hẳn.

Hẻm núiKhông Đầu nằm cách lối vào trấn Lộc Bình độ ba dặm đường, vẫn được xem là nơi hiểm địa bậc nhất ở đây. Chỗ này vốn nổi danh vì hay xảy ra những vụ cướp bóc của bọn lục lâm, nay càng trở nên hoang vắng vì chẳng có cư dân nào sinh sống.
 Đoàn xe tù chậm chạp tiến lên, phần vì trời nắng gắt, phần vì con dốc đã quanh co còn chẳng có lấy một bóng cây, bọn lính tên nào tên nấy mồ hôi vã ra như tắm, đầy vẻ mệt mỏi. Càng đến gần hẻm núi bọn cầm đầu càng đốc thúc chúng mau chóng rảo bước, nói là vậy nhưng cái xe tù chứa hai kẻ tội đồ đóng bằng gỗ đâu có dễ điều khiển, nó cứ cọc cạch tiến lên từng ít một.
Phó chưởng cơ Viện thừa lệnh quan tuần phủ dẫn giải hai tên nghi phạm lên tổng, là một người cẩn trọng. Khác với bọn lính đầu toàn đất, Viện biết rằng đây chính là lúc cần lưu tâm nhất, dù việc tấn công xe tù là điều hi hữu, nhưng ở đời luôn có những chuyện khó lường, nghĩ vậy Viện lại nói to:
-         Chúng bay nhanh cái chân lên, qua khỏi hẻm kia tha hồ cho bay nghỉ ngơi...
Chúng uể oải nhìn chủ tướng rồi cố dấn lên, nhưng chỉ được vài bước, đâu lại vào đó.
Người tù bị gông chặt trông lờ đờ như đang ngủ, nhưng thực ra dưới mái tóc bù xù, bẩn thỉu đôi mắt của hắn đang trở nên tinh anh hơn bao giờ hết, nếu trời thương thì chỉ còn gang tấc nữa thôi hắn sẽ được cứu thoát.

*
*   *

Trong buổi làm việc đầu tuần, sau khi nghe quan biện lý cho rằng xét tính chất cũng như những dấu hiệu cho thấy, bọn tội phạm này không phải lũ đầu đen vô danh tiểu tốt, nên hay hơn cả là đưa chúng lên quan trên tiếp tục tra vấn, thì quan phủ đồng ý ngay.
Bọn lính do phó trưởng cơ Viện dẫn đầu giải hai tên phản loạn lên đường từ lúc gà vừa gáy canh năm. Có hai người đứng trong phủ trông theo bọn người đang khuất dần trong sương sớm đều không giấu được vẻ bồn chồn trên gương mặt họ.
Lát sau họ cùng quay vào sảnh, sau khi tiễn quan phủ, Khánh trở về phòng, anh cũng cần chuẩn bị hành lý, chắc cũng chỉ nay mai anh sẽ kết thúc chuyến công tác ở đây.

*
*   *

Hẻm núi Không Đầu mát lạnh bởi ánh nắng chỉ len vào được trong chốc lát rồi xế ngay sang sườn bên Tây, lại được gió hút vào nên càng khiến người ta muốn dừng chân sau hồi leo dốc mệt nhọc.
Vài tên lính đã cố tình chậm bước, dường như chúng không muốn nghe lệnh của bề trên nữa, một tên dáng chừng là sếp đội đánh liều tiến lên nói với Viện:
-         Bẩm ngài phó, hay cho anh em nghỉ chân chốc lát, leo dốc ai nấy đều mệt cả, vả chăng cũng chẳng có đứa nào lại dám tấn công quan binh...
Sau hồi ngần ngừ  cuối cùng phó chưởng cơ cũng đồng ý dù trong lòng canh cánh lo.
Nghỉ ngơi đâu đó thấy chẳng có sự gì, vẫn tên khi nãy dường như được đà, lại lui cui đến gần Viện thẽ thọt:
-         Bẩm, hay là cũng trưa rồi, ngài cho phép anh em ăn luôn ở đây rồi đi luôn thể...

Nghe cũng có lý Viện gật đầu.

Cơm vừa bày ra, tiếng ồn ào vì được thỏa lòng của lũ lính chưa được bao lâu thì từ hai đầu hẻm không hiểu từ đâu chui ra một bọn người bịt mặt kín mít, gươm đao sáng lòa, trong chớp mắt đã làm chủ chiến trường. Đâm chém chưa đầy nửa tuần hương thì cứu được hai tên trọng phạm.
Phó chưởng cơ Viện trúng một mũi giáo vào cổ, thoi thóp chốc lát thì lìa đời.
Đám lính chỉ còn vài tên sống sót.

Hẻm Không đầu gió vẫn hun hút thổi.

*
*   *

Bữa tiệc chia tay được tổ chức khá giản dị, chỉ có viên biện lý và ông quan phủ ngồi nhâm nhi với nhau trên chiếc sập gụ giữa nhà. Không biết vô tình hay hữu ý mà người tiếp rượu lại là ái nữ của ông. Đã vài lần có dịp trò chuyện cùng cô gái trẻ, Khánh chưa bao giờ hết bất ngờ về cô, vẻ ngoài dịu dàng thùy mị dường như đối lập với tính cánh mạnh mẽ, sự thông minh nhanh nhạy ít thấy ở các cô tiểu thư lá ngọc cành vàng.
Không khó khăn để Khánh nhận ra những ánh mắt, nụ cười chỉ dành cho riêng mình trong những lần gặp gỡ, anh chỉ băn khoăn một điều ấy là chỉ mới gần đây người ta đã giới thiệu với anh vị hôn phu của cô, một chàng công tử chính hiệu.
Phải chăng cô nàng này thuộc hạng mất nết, và đang chơi trò mèo vờn chuột với anh, nghĩ vậy nên nhiều lúc anh chỉ cười trừ, ngay cả khi chỉ có một mình. Khác với nhiều người, quan niệm về cuộc sống của Khánh chưa bao giờ bó hẹp trong những thú vui thường thấy, anh cần một cái gì đó rộng hơn, xa hơn, nhưng đó là gì thì Khánh cũng chưa biết rõ.
Hai người đàn ông khác thế hệ im lặng ngồi uống rượu, chỉ thi thoảng cất tiếng mời cạn chén, nếu có gì gọi là không khí của bữa ăn thì đó là những ánh mắt, cử chỉ thân thiện họ dành cho nhau mà thôi.
Thực ra sự im lặng cũng có lý do của nó. Họ đang vừa ăn vừa chờ đợi.
Và cuối cùng, một tên lính khố xanh người còn vương vết máu cũng xuất hiện trước cổng.
Nó vào báo tin về vụ cướp phạm vừa xảy ra.

PHẦN BA –NHỮNG CUỘC GẶP GỠ

Sáng nay, anh nhận được thư của Hà Hạp thông báo về chuyến hàng sắp tới sẽ đi qua tổng Giang Hà, lần này là một vụ lớn, Hạp muốn nhờ quan biện lý vốn có tiếng nói trong tổng lo trước việc này. Chủ yếu là bọn cai đội ở những đồn mà đoàn thương lái sẽ đi qua.
Tất nhiên việc đó chẳng có khó khăn gì, chỉ cần biết đó là người nhà của  Khánh thì có bố bảo chúng cũng chẳng dám đụng vào. Tất nhiên, vốn là loại lọc lõi trong việc này nên Hạp cũng không quên gửi kèm theo thư những thoi bạc luôn sáng lấp lánh dưới ánh nến.
Khánh không ngạc nhiên khi Hà Hạp cho anh hay rằng mình là thành viên của Phục Quốc đảng vào buổi chiều năm ấy, chỉ là hơi bất ngờ về cách tiếp cận của họ với anh mà thôi.
Sau vụ Hẻm Không Đầu, tuy chưa chính thức, nhưng với vài lần mang tin tức về những chỉ thị mới của quan trên đưa xuống tổng, mà Khánh có dịp tiếp cận, hoặc anh tìm cách có được chuyển cho bọn Hạp thì nghiễm nhiên anh đang dần trở thành người của họ.
Có một điều làm Khánh khá quan tâm đó là tin tức về vị quan tuần phủ Đồng Giáp và người nhà của ông ta mà ở đoạn cuối lá thư Hạp có dành vài dòng ngắn ngủi để nói về họ. Sau biến cố đó, vì có liên đới nên ông ta bị giáng chức và đổi đi một vùng xa xôi, mãi tận miền trong, vì nỗi sơn hà cách trở n ên đành để gia quyến ở lại quê nhà.
Rồi chỉ ít lâu sau trong một lần đụng độ với bọn thổ phỉ vì vết thương khá nặng nên ông đã không qua khỏi.  Hiện nay, gia đình họ chỉ đang sống như những người trung lưu khác chứ không còn cái vị thế của một danh gia đầu tỉnh xưa nữa. Mà thói đời vẫn đen bạc như thủa nào, không còn những môn khách, thân hữu tấp nập vào ra, đồng môn đồng tuế cũng vắng dần rồi mất hẳn, thậm chí đã có vài kẻ đãhiện nguyên hình là phường tiểu nhân khốn nạn...
Đọc thư xong Khánh trở nên ưu tư, có lẽ phải trở lại nơi đó, anh vẫn nhớ những cánh đồng tam giác mạch tím ngát cả một vùng trời mỗi khi chớm Đông. Và ánh mắt thẳm sâu của cô tiểu thư dành cho mình trong những lần gặp gỡ.
Lại cả sự chân tình, thái độ tôn trọng mà vị tiền bối đã dành cho anh suốt thời gian ngắn ngủi ở trong phủ của ông cũng khiến anh thấy mình không thể làm ngơ trước tình cảnh hiện nay của họ.
Nhưng chiều nay có một cuộc họp quan trọng trong tổng mà anh phải có mặt, người Pháp đang có ý định mở rộng sự cai trị ở vùng này, nơi mà sự lộng hành của những nhóm chống đối đang khiến họ đau đầu.
Khánh nhìn đồng hồ, cũng sắp đến giờ.

*
*   *

Hà Hạp bực dọc ném dây cương cho tên giữ ngựa rồi hầm hầm bước vào quán, hai người cùng đi im lặng theo sau. Họ tìm một góc xa khuất dù giờ này chẳng có mấy người ăn.
Sau khi uống cạn bát rượu ngô sánh vàng, Hạp quay sang người chít khăn đen hất hàm bảo:
-         Tôi nói thế có đúng không? Bao nhiêu công lao, bao nhiêu người đã phải nằm xuống để có một Phục Quốc như bây giờ, từ xưa chúng ta vẫn hoạt động mà không có họ, thế mà giờ đây lại phải liên minh với họ là sao...
Chẳng để người kia trả lời Hạp lại cầm bát tu một hơi rõ dài, mắt đỏ ngầu anh ta ngoảnh về phía người còn lại:
-         Cả anh nữa, đã không có chính kiến của mình lại còn giơ tay ủng hộ, anh quên mất chúng ta đã phải vất vả thế nào mới có được một vùng của riêng mình ư? Thế hóa ra tất cả đổ hết đi à?
Người kia lắc đầu nhìn Hạp rồi im lặng ăn uống.

Họ vừa trở về từ đại hội bất thường của đảng, sau những tổn thất vừa rồi, nhiều chi bộ, nhất là ở vùng xuôi đã bị xóa sổ, chỉ còn lại một số ít những nơi thuộc vùng hẻo lánh là còn giữ được lực lượng. Xét trên thực tế, việc gây dựng lại tổ chức không thể là chuyện ngày một ngày hai, lại còn cả phương pháp đấu tranh cũng cần xem xét lại, mà bài học thực tế cũng đã chỉ ra nếu không có sự ủng hộ của đông đảo quần chúng mà chỉ hoạt động nhỏ lẻ, đơn độc thì tất yếu sẽ dẫn đến thất bại.
Chính trong lúc ấy Việt Cách - một tổ chức yêu nước khác - đã gửi thông điệp mong muốn tạo ra một liên minh vững chắc, rồi từ đó dần thống nhất các đảng phái nhằm tạo ra sức mạnh mới, lớn hơn cho đại nghiệp.
Đa số đảng viên ủng hộ chủ trương của Việt Cách, chỉ còn một số ít những người bày tỏ sự nghi ngại về việc này. Hà Hạp là một trong số ấy.

Trong đảng, những người tài năng như Hạp không phải là nhiều, anh ta đã có thời gian hoạt động mà không có sự giúp đỡ của tổ chức trong nhiều năm, nhưng khi cần thì cũng sẵn sàng phối hợp hành động. Tuy nhiên đúng như người đại diện của Việt Cách đã chỉ ra trong cuộc tranh luận gay gắt giữa ông ta và Hà Hạp trong buổi sáng hôm ấy; lực lượng của Hạp cũng chỉ mang tính chất của những nhóm phản loạn tự phát, thành viên chủ yếu làm việc vì động cơ cá nhân chứ chưa thực sự được trang bị kiến thức, lý tưởng phù hợp với thời đại. Còn vị đầu lĩnh, dù có nhiều điểm tốt nhưng hành động vẫn còn mang nhiều nét của những anh hùng hảo hán thời xưa.
Lúc này, trong quán rượu anh ta đang cố gắng thuyết phục hai người đồng đảng về việc không tham gia liên minh với các đảng phái khác.
Nhưng nhìn vẻ mặt của họ thì người ta biết Hạp chỉ đang làm một điều vô ích mà thôi.

*
* *
Như Mai buồn rầu bước ra khỏi tiệm cầm đồ, lão chủ cương quyết không trả hơn cho cặp hoa tai đính ngọc, những thứ như thế nếu tìm mua cũng chẳng dễ dàng gì? Biết làm sao được, mẹ cô lại ho suốt đêm qua.
Lẽ ra bà cũng chưa đến nỗi ốm nặng như thế nếu không có lá thư được gửi đến cách đây vài tháng. Nhà thông gia chính thức từ chối mối lương duyên giữa con trai họ và cô, chẳng có lý do nào được đưa ra.
Tất nhiên, nếu cô vẫn đang là con gái của quan tuần phủ oai nghi miền biên viễn thì chuyện ấy chẳng thể xảy ra. Nhưng mọi thứ đã thuộc về quá khứ.
Dinh quan phủ bị thu hồi từ lâu, giờ đây hai mẹ con cô đang sống trong một căn nhà cũ kỹ nằm ở cuối thị trấn này.
Đang cắm cúi đi cô chợt dừng lại, có tiếng xe hơi đang tiến vào trấn, nơi đây vắng khách phương xa, chỉ những người giàu có mới thi thoảng có mặt để chiêm ngưỡng cảnh sắc mỗi khi mùa hoa tam giác mạch nở.
Chiếc xe màu trắng ngà không mui từ từ lướt nhẹ qua hè phố nơi Như Mai đang đứng, chẳng phải là anh ta kia sao, chàng công tử miền xuôi đã đem đồ sính lễ đến nhà cô năm trước đó sao.
Trong bộ đồ sang trọng với cặp kính tối màu anh ta đang giả lả cười, ghế bên là một cô gái người thành thị quý phái. Hình như có một thoáng anh ta dừng cái nhìn lại phía Như Mai, nhưngnó lướt qua cô cũng rất nhanh.
Chỉ thoáng chốc chiếc xe khuất dần sau những khúc cua.
Còn lại một mình trên con phố vắng.
Tự dưng cô thấy một nỗi buồn xâm chiếm, rất khó cắt nghĩa, một sự mất mát có thật, dù với anh chàng nọ chưa bao giờ cô nảy sinh chút cảm tình. Hình như có giọt nước mắt bắt đầu lăn trên má, Như Mai bước nhanh về nhà trong khi những cơn gió bắt đầu thổi mạnh, có lẽ sắp mưa.
Đang lúi húi mở cửa thì cô phải dừng tay để nghe ngóng vì lại có tiếng động cơ xe ngày một rõ dần, rồi một chiếc xe khác dừng lại ngay chỗ bậc thềm. Một người bước xuống gật đầu chào cô.
Như Mai thấy anh ta rất quen, hình như cô đã gặp người này ở đâu.
Anh ta bỏ mũ tiến lại gần.
-         Chào cô, có phải cô Như Mai?
-         Vâng, anh là...?
-         Tôi có quen với ông cụ nhà mình, và cũng đã đôi lần được đến thăm nhà hồi...
Hình như biết mình lỡ lời, anh ta dừng lại rồi làm một cử chỉ để che dấu sự bối rối.
-         Không sao, tôi đã quen rồi – Như Mai hơi nhìn đi chỗ khác trả lời.
Lúc này thì cô đã nhận ra người đang đối diện với cô, anh ta là bạn vị hôn phu hụt của cô, một bác sỹ nào đó đã đôi lần đến nhà cô, chắc là họ lại cùng nhau rong chơi đây mà.

-         Liệu tôi có thể vào nhà được không? – Người nọ hơi ngập ngừng.
Như Mai nén tiếng thở dài, cô ngại ngần nghĩ đến căn phòng tồi tàn ẩm mốc, anh ta muốn gì đây?
-         Tôi thấy thuốc uống trên tay cô, phải chăng có gì không ổn? Không sao đâu, tôi là bác sỹ mà!
-         À vâng, mẹ tôi...vâng mời anh vào nhà!
Cử chỉ cùng với giọng nói chân thành của người khách lạ khiến cô bị thuyết phục, Như Mai mở cửa, mẹ cô lại ho một tràng dài khiến cô đi vội đến bên giường.
-         Ai thế con?
-         Dạ, một người bạn, anh ta..
-         Vâng, cháu muốn xem bệnh cho bác – Người kia đã đến bên cạnh từ khi nào.
Bằng một sự thành thạo, anh ta cầm tay bệnh nhân chăm chú lắng nghe nhịp mạch. Hình như đằng sau sự lo lắng là một nét nhẹ nhõm vừa hiện ra trên gương mặt anh ta.
Trong khi Mai chuẩn bị nước uống thì người nọ đi ra ngoài, lát sau anh ta trở lại với một gói nhỏ trên tay.
-         Cô cho bà uống cái này, sẽ nhanh khỏi thôi – Lúc này hai người đã ngồi đối diện nhau trên chiếc bàn gỗ ở phía ngoài – Mẹ cô chủ yếu mắc tâm bệnh, việc này cần có thời gian.
Đã hết nghi ngại, Mai gật đầu cảm ơn người khách lạ, nhưng cô vẫn nghĩ đây hẳn không phải là một sự tình cờ. Hình như đọc được suy nghĩ của cô, người nọ lên tiếng:
-         Có lẽ đã đến lúc không cần giấu cô nữa, thực ra cha cô là một người yêu nước, dù không muốn nhưng cuộc đấu tranh nào cũng khó tránh khỏi những hi sinh mất mát. Đất nước sẽ không quên họ, những người đã xả thân vì nghĩa lớn...
Anh ta còn nói nhiều nữa, những điều mà chưa bao giờ cô được biết, về thân phận nô lệ của dân đen, về bọn tham quan bán nước...và hơn hết cô thấy tự hào về bố mình, ông còn có nhiều cái lớn hơn là hình ảnh một người cha đáng kính.
Người nọ đi rồi mà Mai còn đang chưa hết ngỡ ngàng. Anh ta nói cô hãy chuẩn bị hành lý, chỉ ít lâu nữa cô sẽ rời khỏi nơi này.

*
*   *

Tin tức về một cuộc hành quân lớn sắp diễn ra mà Khánh tình cờ nghe được từ miệng viên lãnh binh lúc đã ngà ngà trong cuộc chiêu đãi sau cuộc họp hôm qua khiến anh đứng ngồi không yên. Nếu không kịp chuyển cho  tổ chức thì tổn thất là điều không thể tránh khỏi vì đây là trận đánh mang đầy đủ các yếu tố cần thiết của một đòn quyết định nhằm loại bỏ sự tồn tại của những nhóm du kích đang hoạt động ở vùng này.
Hôm ấy là chủ nhật, lại nhằm mùng một, cùng với tên lính lệ, Khánh lái xe nhằm hướng ngoại ô, anh đến chùa Diên Khánh. Khách đi lễ, vãn cảnh đông hơn ngày thường. Phải mất khá lâu chờ đợi Khánh mới giấu được tài liệu dưới chân bát hương trong chính điện như mọi lần, bởingười ta cứ tranh nhau khấn vái, cầu xin đủ điều.
Trong khi đó đoàn người ngựa do Hà Hạp chỉ huy đã sắp qua khỏi tổng Giang Hà, tiếng là muối nhưng thực ra dưới những sọt nặng nề trên lưng ngựa kia lại toàn súng đạn. Gần ba chục ngựa thồ kéo thành một hàng dài trên con đường mòn ven rừng.
Đây không phải lần đầu Hạp mạo hiểm cho nghĩa binh giả dạng lái buôn đi ngay trước mũi bọn lính. Tất nhiên số bạc phải chi cho chúng cũng chẳng phải ít ỏi gì, phần nữa cũng bởi uy danh của ngài biện lý mà Hạp đã cẩn thận đem ra làm bùa hộ mạng mỗi khi hữu sự.
Nhưng những vụ như thế này còn được bao lâu khi mà Phục Quốc đã sắp bị sát nhập, không, không thể được! Ta có đủ năng lực để tự khẳng định mình, có vậy chúng mới nể sợ, dù cấp trên có đồng ý liên minh với họ thì Hà Hạp này sẽ vẫn đi theo con đường đã chọn, kể cả trong trường hợp chỉ còn một mình!
Vừa đi Hạp vừa nghĩ ngợi, thực tình có những lúc cũng thấy hoang mang bởi nếu cứ nhìn vào mọi việc đang diễn ra thì quả là việc kết hợp với các đảng phái khác sẽ khiến cho lực lượng trở nên mạnh hơn, nhưng như thế sao bằng có một cõi cho riêng mình...
Đang lúc rối tinh trong đầu vì những chuyện mấy ngày qua thì có tin của thám tử báo về; ám hiệu trước nhà quan biện lý cho biết ông vừa gửi một mật thư, nhưng khi chúng đến điểm hẹn thì được thông báo là cấp trên đã lấy đi rồi!
Tin này này làm Hạp điếng người, như thế có nghĩa là họ đang dần tước bỏ quyền lực của mình, bấy lâu nay việc lấy tài liệu chuyển từ tổng Giang Hà ra đều do một tay Hạp này làm, mà người nằm vùng cũng lại là ta gây dựng, vậy mà...
Càng nghĩ Hạp càng tức giận, hai hàm răng nghiến vào nhau ken két, mắt long lên sòng sọc, tay nắm chặt báng khẩu Pạc hoọc để sau lưng áo, lúc này nếu chỉ cần ai đó có chút sơ ý với Hạp thôi thì chắc chắn khó mà toàn mạng.

*
*   *

Tuần trước, biện lý Vi Khánh nhận được giấy triệu tập của tòa Khâm sứ, cứ theo nội dung ghi trên đó thì do tình trạng thiếu nhân sự cho nghành Tư pháp, đặc biệt là chức danh thẩm phán, xét quá trình làm việc, quan trên nhận thấy biện lý Vi Khánh có đủ năng lực để đào tạo trở thành thẩm phán nên Khâm sứ Bắc kỳ cho gọi về Hà Nội dự một khóa đào tạo đặc biệt.
Thời gian chẳng còn nhiều, thu xếp hành lý xong, anh vội thảo ngay một báo cáo gửi cho tổ chức, bởi chuyến này sẽ đi khá lâu, mọi liên lạc có thể phải dừng lại một thời gian. Nhưng có một điều anh còn chưa an tâm, đó là lời hẹn về lại phủ Đồng Giáp mà lẽ ra anh phải làm từ lâu rồi mới phải, cũng bởi công việc việc cứ nối nhau, rồi lại cả tình hình chiến sự đang ngày một ác liệt, mọi thứ khiến anh bù đầu.
Hôm nay, sau một tuần nghiên bút, rồi cũng thu xếp được thời gian, giờ đây Khánh đang thư thái dạo quanh Bờ hồ. Thành Thăng Long cổ kính luôn khiến anh nhẹ lòng mỗi khi có dịp ghé lại.
Trời đã về chiều, sương mù lảng bảng trên mặt nước làm cho tháp cổ lúc mờ lúc tỏ, đôi cánh thuyền nan chầm chậm thu lưới, tiếng chuông chùa thong thả ở đâu vọng vào thinh không, làm cho cảnh vật càng thêm yên bình.
Chợt có ai đó lên tiếng ngay bên cạnh khiến Khánh hơi giật mình:
-         Xin hỏi có phải ngài là quan biện lý của tổng Giang Hà đó không?
Một người, dáng thư sinh nhưng đầy vẻ tự tin đang ngả mũ chào anh, Khánh hơi ngờ ngợ bởi gương mặt này anh đã từng gặp ở đâu rồi.
-         Xin tự giới thiệu tôi là bác sỹ Trương – Người kia vừa cười vừa giơ tay về phía Khánh – Chúng ta thật có duyên khi tái ngộ ở đây, chắc do khá lâu nên ngài biện lý không nhớ ra.
Khánh chợt à lên, đây là người đã ngồi cùng mâm hôm diễn ra tiệc rượu ở nhà quan tuần phủ cách đây mấy năm. Anh vội đưa tay ra:
-         Tôi sơ ý quá mong anh bỏ qua cho. Chẳng hay bác sỹ tình cờ qua đây hay có công chuyện gì?

Người đàn ông trẻ tuổi ngập ngừng giây lát rồi xin phép ngồi xuống. Sau điếu thuốc anh ta bắt đầu nói bằng một giọng trầm ấm.
Hóa ra người đang ngồi bên cạnh đây lại là thành viên cao cấp của Phục quốc.
-         Tổ chức sẽ ra nhập Việt Cách trong thời gian không xa, sau khi cân nhắc cấp trên đã có quyết định như vậy, tất nhiên cũng còn những ý kiến khác, nhưng anh biết đấy, chúng ta phải lấy đại cuộc làm trọng. Cách mạng sẽ là công cuộc lâu dài, nhưng nếu không có sự đoàn kết giữa các nhóm thì chúng ta sẽ không có đủ sức mạnh...

Cứ thế, câu chuyện của bác sỹ Trương càng lúc càng khiến Vi Khánh thông tỏ nhiều điều, mọi thứ sẽ còn phải đi xa hơn là một vài trận đánh, những vụ ám sát hay là sự cát cứ của một nhóm hảo hán nào đó, lần đầu tiên anh được nghe những từ dân tộc, dân quyền, độc lập, tự do...từ miệng của một người An nam và nói cho nước Việt, nói về nước Việt, chứ không phải là những bài học lịch sử của nước Pháp xa xôi.
-         Tôi có một bất ngờ dành cho anh – Người đàn ông trẻ tuổi sau một hồi thuyết giảng, chợt ngừng lại nheo mắt hóm hỉnh nhìn Khánh – Anh còn nhớ cô Như Mai chứ?
Câu hỏi khiến Khánh không khỏi giật mình, anh mở to mắt nhìn người đối diện, nhưng anh ta chỉ cười rồi trao cho Khánh một mẩu giấy, xong đâu đó người nọ đứng dậy đặt chiếc mũ phớt lên đầu.
Khi bóng anh ta khuất hẳn cũng là lúc màn đêm buông xuống, những bóng đèn đường tỏa ánh sáng vàng lẫn vào tán lá làm cho không gian như ấm hẳn lên.

*
*   *

Tuyến phòng ngự thứ nhất được bố trí ngay trước dãy Mũi Ngựa, đây là lối duy nhất dẫn vào doanh trại du kích quân do Hà Hạp cầm đầu. Trên một ngọn núi lá cờ màu huyết dụ nổi rõ hai chữ Quyết tử đang phấp phới bay.
Hạp, cùng với nhóm người thân cận ngồi trong một hang núi dùng ống nhòm quan sát địch quân, chúng đã tiến sát chân lũy và bắt đầu công phá bằng mìn và pháo lớn. Binh lính trong lũy hăng hái chống trả với tên độc cùng bẫy đá, chỉ có một phần nhỏ trong số họ là dùng súng trường, trận chiến đang bắt đầu.
Ba ngày trước có thám mã đưa tốc lệnh xuống doanh trại, vừa đọc xong Hạp tức giận xé đôi tờ giấy, thuận tay ném thẳng chiếc bát uống nước về phía tên đưa thư. Lệnh trên cho hay chỉ vài ngày tới tổng Giang Hà sẽ động binh, ngoài lính bản địa còn có thêm một đơn vị lê dương tham chiến, xét tương quan lực lượng thấy quá chênh lệch nên sức cho các cánh quân tạm thời lui binh chờ lệnh.
Ngay chiều hôm ấy, Hạp cho họp các đầu lĩnh, tức tốc đốc thúc các doanh quân chuẩn bị lương thực, sửa sang chiến hào, chuẩn bị khí giới sẵn sàng nghênh định. Có kẻ còn bàn cho một cánh quân đi đánh phủ đầu bọn địch, nhưng sau thấy không ổn, nên thôi.
Lúc này, pháo của bọn lê dương đã thay đổi cự ly, chúng bắn thẳng vào doanh trại, đã có lửa cháy, khói bốc lên khắp nơi.
Một mảng dinh lũy bị san bằng vào lúc mặt trời đã lên cỡ con sào, Hạp cho tập trung quân xô cả lại hòng ngăn giặc, nhưng trước sự áp đảo về vũ khí, chỉ sau độ một canh giờ trận đã vỡ, bọn lính chẳng ai bảo ai mạnh đâu nấy chạy. Lại có tin báo kho lương đang bắt lửa, hai đầu lĩnh ở phía Nam lũy đều tử trận, hàng ngũ bắt đầu rối loạn.
Hạp thở hắt ra, mắt long lên sòng sọc, hầm hầm đẩy tên lính đánh trống làm nó ngã dúi rồi giang thẳng tay nện liên hồi lên mặt chiếc trống lệnh.
Nhưng không có tác dụng gì.
Sắc phục lính triều đình ngày một nhiều trong lũy, bọn nghĩa binh phần chết, phần bỏ chạy, hàng ngũ chẳng thấy đâu, tình thế lúc này quả thực ngàn cân treo sợi tóc.
-         Đầu lĩnh, ta chạy đi thôi – Tiếng ai đó thảng thốt cất lên, khiến Hạp quay ngoắt lại rút khẩu súng ngắn chỉ thẳng vào mặt người nọ quát lớn:
-         Mày nói gì? Mày có nhìn thấy lá cờ kia không, mày có biết chữ gì kia không? Đồ hèn!
Vừa nói dứt câu bỗng nghe một tiếng nổ, tấm đại kỳ màu huyết dụ lảo đảo trong gió rồi đổ gục xuống, khiến cả bọn thất kinh đưa mắt nhìn nhau.
Một sự im lặng bỗng bao trùm khắp đám người trong hang.
Đột nhiên Hà Hạp vụt đứng lên quắc mắt đảo quanh một lượt rồi nói bằng một giọng lạnh băng:
-         Thôi được rồi, các anh em, ta giã biệt ở đây!
Đoạn Hạp bước ra ngoài, nhảy phóc lên lưng con ngựa chiến, nó hý một tràng dài. Sau khi nhìn lại một lần nữa những đồng đảng của mình Hạp thúc mạnh gót vào hông con chiến mã nhằm thẳng hướng chiến trường đang mịt mù phía xa.
Có hai tên tâm phúc sau hồi bối rối cũng lên ngựa đuổi theo chủ soái.
Bọn còn lại cứ ngẩn ra mà trông theo bóng ba kẻ anh hùng đang mờ dần trong khói lửa.

*
*   *


HƠN MƯỜI NĂM SAU

Cuộc di cư hiếm có trong lịch sử đất nước cuối cùng cũng diễn ra, người ta đổ xô đi tìm thiên đường ở phía Nam.
Bong tàu đã chật cứng hành khách, chủ yếu là người Pháp, trên bờ,có rất đông khách đang chờ đến lượt mình để được xuống tàu. Vi Khánh tìm một góc khuất lặng lẽ đốt thuốc, anh chậm rãi đưa mắt ra xa, những phố xá, núi non kia chỉ chốc lát nữa thôi sẽ chỉ còn trong ký ức.
Với sự biến chuyển nhanh chóng của thời cuộc, người Pháp buộc phải công nhận nền độc lập của xứ An nam, theo những điều khoản mà hai bên đã ký kết,và họđang phải rời khỏi mảnh đất này. Ngoài ra, những công chức có năng lực và mẫn cán như thẩm phán Vi Khánh cũng nằm trong danh sách di tản của Bộ thuộc địa, anh có mọi quyền giống như một công dân Pháp.
Trong bộn bề suy tư, Khánh vẫn nghe đâu đó bên tai lời người cán bộ cao cấp khi giao nhiệm vụ cho anh:
-         Chuyến đi này sẽ không có hạn định, có thể ngày trở về sẽ rất lâu, đồng chí sẽ phải tạm xa quê hương, tổ quốc.Chúc đồng chí may mắn!

Hết