Thứ Ba, 15 tháng 12, 2015

LÃNG ĐÃNG MẤY THÚ CHƠI

LÃNG ĐÃNG MẤY THÚ CHƠI




Đời người ta ngắn lắm thay, vẫn biết cái nợ hồng trần chẳng buông tha ai, nhưng nếu có một thú chơi cho riêng mình, để sau những lúc gồng lên mà chống trả với lợi, danh, ta lại có những khoảng êm đềm, chỉ riêng ta thôi, trần trụi.


CÂU


Anh bạn tôi vốn rất mê câu, nếu gặp người cùng sở thích anh có thể nói hàng giờ về chuyện ấy, từ cách làm sao có được một chiếc cần trúc dân dã, đến việc mua ở đâu, hãng nào để có được một dụng cụ câu vừa ý. Anh cũng hay kể về thời thơ ấu, với những mùa câu cháy nắng dọc sông Kỳ Cùng, sản phẩm mà anh mang về rất phong phú nhưng nhiều hơn cả là  giống trạch trấu, một loài cá da trơn nước ngọt sống trong những sông suối có nhiều hang đá.
Trạch chấu kiếm mồi ở tầng đáy, là giống phàm ăn, thả mồi xong hễ thấy đầu cần rung nhẹ rồi sợi cước bị kéo đi một vệt dài là chắc chắn có ăn. Không gì hồi hộp bằng việc kéo từ dưới nước một chú cá đen trũi dài cỡ gang tay, loằng ngoằng quẫy. Gặp đàn, có khi chỉ ngồi một chỗ cỡ đôi tiếng là có ngay đĩa cá sông thơm nức mũi. Trạch chấu dễ làm, nhiều thịt, ít xương, thơm ngon hiếm thấy. Xưa – gọi thế cho xưa – chứ cũng chỉ cách nay độ 3-4 chục năm thôi ,việc kiếm được những chú trạch trấu cỡ dăm, bảy lạng không phải là hiếm, nay thì tuyệt tích rồi.
Một loài nữa cũng hay xuất hiện trong câu chuyện của anh, ấy là, giữa trưa Hè đứng trên cao nhìn xuống khúc sông vắng, thấy có những tăm bọt sủi lên thì kiểu gì cũng có mặt chúng ở đó. Nếu trên bờ lại có đôi doi cát lẫn trong đám cây bụi thì chẳng còn nghi ngờ gì, đó là nơi ba ba lên đẻ trứng vào mùa sinh sản.- Xưa nhà nghèo, mỗi lần câu được  nào có dám ăn, lại lóc cóc đem lên đầu xóm nơi có ngôi nhà gạch rộng của lão Bạch buôn ngựa, đổi lấy mấy đồng đong gạo! – Anh ngậm ngùi kể - lão ấy giàu vì có đường dây ngựa từ Tây Bắc về, ngựa thồ, ngựa kéo, lại cả ngựa trắng dùng nấu cao nữa. Mỗi năm vài chuyến,  lão trở nên giàu nhất tổng. Mãi sau này mới hay ngựa ấy chỉ  để che mắt thôi, hàng của lão là những bao, lồ cơm đen được ngụy trang khéo nằm trên lưng ngựa ấy.
Nói về câu tôi lại nhớ chuyện ông Lã Vọng đời xưa ở bên Tàu, ngồi trên bờ sông Vị chờ bậc minh quân với chiếc cần câu lưỡi thẳng, có người thấy lạ tò mò hỏi hỏi, ông cười; lưỡi cong chỉ để câu loài thủy sinh còn ta chờ câu những Hầu, những Bá cơ!




NHẠC

Âm nhạc quả là một thứ có ma lực mãnh liệt, chẳng có ai mà không có những lúc cao hứng nghêu ngao đôi câu hát. Tất nhiên, giống như đời, nhạc cũng có nhiều thể loại, cũng chừng ấy những nhóm người yêu nhạc khác nhau, gọi là gu. Nhưng nói đến gu thì lại phải nhắc chữ sành. Dân sành nhạc, là một cụm từ khó cắt nghĩa, chỉ biết rằng đã được xếp vào trong nhóm này thì hẳn không phải là những kẻ hời hợt, nông cạn.
Bàn  về nhạc,  tôi nhớ ngay đến chiếc băng catxet, vốn rất thịnh hành một thời, tất nhiên là  có nhiều kỷ niệm. Một trong số ấy là những buổi tối, gần như cả xóm lao động nghèo sau một ngày  vất vả lại tập trung ở nhà ông giáo Vĩnh, nghe cải lương từ cái máy Shap ba con bảy chạy awcsquy mà cứ mỗi phiên ông lại đèo xuống chợ huyện nạp đầy. Chỉ  để phục vụ bà con thưởng thức những Lan và Điệp, Tướng cướp Bạch Hải Đường...
Xa hơn nữa, khi lui về dĩ vãng phải kể đến những chiếc máy hát –  hồi đó người ta gọi như thế – sử dụng đĩa nhựa  to như vành mũ, mà có dạo dùng để lót lồng chim. Thôi! Những Bach (Johann Sebastian Bach) , Môda, Bét Thô Ven ( Ludwig van Beethove) đâu có ngờ đâu rằng rồi có một ngày những tuyệt phẩm của mình sẽ được sống cùng với phân chim.
Rồi đến thời của  CD, VCD,...những anh này cũng chẳng tồn tại lâu khi công nghệ kỹ thuật số ngày một tiến bộ, giờ đây người ta nghe bằng iphone, handhel với những  kho nhạc khổng lồ.
Tưởng đã phôi pha, nhưng  có một trào lưu mới âm thầm hình thành dựa trên những nền tảng cũ, họ tìm về với băng cối, đĩa than, amply đèn...những thứ mà cả một dòng 8x, 9x... hầu như chưa nghe nói. Bây giờ có vẻ đã dễ hơn, nhưng trước đây, giữa cái thời của nhạc số để “dựng” được một “con đèn” * chẳng hề đơn giản, người ta phải kỳ công đi săn tìm những chiếc bóng sợi đốt vốn bị cho ra hàng đồng nát tự thủa nào. Sau lại hì hụi chế tác, nào khoan, nào đục, rồi thì quấn biến thế. Cứ vậy, nhanh cũng phải tính cũng bằng tháng, có kẻ còn kỳ công tìm cho được những chiếc ốc vít cùng loại để bắt phụ tùng khiến cho sản phẩm khi ra đời mang rất đậm dấu ấn cá nhân.
 Chẳng biết  có hay hơn không, nhưng nhìn họ mơ màng giữa những Diễm xưa, Còn tuổi nào nào cho em... lại nhớ chị hàng xóm, sớm nay vừa quét sân vừa ngân nga hát. Hỏi sao vui vậy, chỉ thấy hồng đôi má lỏn lẻn cười, mới hay đêm qua gió Xuân đã về.


XE

Là xe hai bánh thôi, phải nói ngay vậy kẻo gây hiểu lầm.  Đối với dân yêu xế cổ thì sành điệu không bao giờ đồng nghĩa với SH, Dylan hoặc những gì đại loại. Lèng mèng ra thì cũng phải 67, minsk, kích, cup. Cao cấp hơn sẽ là veppa cổ, sidecar...những chiếc xe được sản xuất ít nhất cũng phải từ những năm 50 của thế kỷ trước, độc đáo hơn thì có Mobylette, Peugeot...
Xứ ta – Lạng sơn - nói đến xe Minsk chắc chẳng ai lạ gì, nhất là các bác, các anh 6x, 7x, vào những năm mới mở cửa, hàng hóa về nhiều, số lượng xe “con cò” ở Lạng sơn nhiều đến nỗi có người đã gọi đây là thành phố Min. Nhiệm vụ của chúng là thồ hàng, người,  chúng còn được biết đến với cái tên: xe cẩu pỉnh, nổi tiếng dạo nào.
Xe Minsk sử dụng côn tay bóp rất nặng, không có đề, cần khởi động bên chân trái cũng thuộc hàng khủng, người yếu, nhỏ con nhất là phụ nữ rất ngán ngẩm. Đã vậy lại hay chảy dầu, thế nên lúc nào trông cũng lem nhem, rất khó yêu.
Sau một thời làm mưa làm gió,  những chiếc xe có xuất xứ từ liên bang Xô viết đã dần vắng bóng. Để nhường  chỗ cho Dream, Viva...là những nhãn hàng đến từ các nước có nền công nghiệp phát triển hơn. Người ta dần quên đi chiếc xe có chiếc bình xăng tròn in hình con sếu đang vươn mình bay về phía trước.
Rồi đến một ngày chẳng rõ vì hoài cổ hay đã chán xe hiện đại, dễ điều khiển, những tay chơi bắt đầu săn tìm Minsk. Xe còn tốt rất hiếm, đa số đều phải phục chế lại từ nước sơn, khung càng, gầm bệ...Tất thảy đều phải được đưa vào xử lý lại, để rồi ít lâu sau chiếc xe hai thì chạy xăng pha nhớt lại tanh tanh nhả khói trên đường.
Chơi xe cổ cũng có những yêu cầu khắt khe, vì xe cũ, vận hành đã lâu,  nên khá đỏng đảnh, với Minsk, ngay chuyện đổ xăng thôi cũng đủ phiền phức, bây giờ thật hiếm còn đâu người ta bán xăng pha. Vậy là chủ nhân của nó phải sắm riêng cho xe một lọ dầu để mổi khi đổ xăng lại rón rén pha thêm, mà đây, cũng là một thú vui, nhiều quá xe chạy bốc nhưng xả khói, ít lại khiến xe ì ạch dù đỡ ô nhiễm hơn. Nay để giảm đi cái nhìn thiếu thiện cảm của dân tình, người ta đã chế ra xăng thơm, đúng ra là nhớt thơm, có mùi dễ chịu.
 Trong những chuyến đi xa – bây giờ gọi là phượt – chẳng thể thiếu bộ đồ nghề sửa chữa với những cale mỏ lết, ai mà biết con trâu già ấy sẽ dở chứng khi nào.
Cách đây mấy năm, nghe nói trong Bắc Sơn có người còn giữa được chiếc Simson khá đẹp, tôi rủ anh bạn chung sở thích làm một chuyến về nguồn. Hỏi han mãi rồi cũng tìm ra địa chỉ, chiếc xe để dước gầm sàn, sạch sẽ, bóng lộn và được dựng chống giữa trên một tấm ván kê cao. Trà nước xong xuôi rồi, đến khi hỏi mua thì chủ nhà nhất định không bán dù giá cả cứ được trả cao dần lên. Mãi sau mới biết chiếc xe là kỷ niệm của một thời gian khó với bao nhiêu buồn vui, nay khi kinh tế đã tạm ổn rồi, cứ lâu lâu chủ nhà lại đem ra lau chùi rồi nổ máy, chạy một vòng quanh thị trấn – Cho đỡ nhớ! - Ông bảo thế.
Nghe ông nói chuyện và cái cách ông nhìn nó tôi có cảm tưởng như ông đang nói về một người bạn chứ không đơn thuần chỉ là một chiếc xe.









CHIM



Ông bà ta nói cấm có sai, phú quý thì sinh lễ nghĩa, xưa lúc thiếu ăn có bói cũng rất khó tìm được người chơi chim. Có chăng thì cũng là những bậc phú hộ, công tử nhiều tiền mới dám, miệng ngậm tẩu, tay xách lồng đựng con chim quý mà đi dạo phố. Đâu có chỗ cho đám thường dân bần hàn.
Giờ thì nhà nhà chơi, người người sắm, ít đôi chú họa mi sáng sáng véo von đầu hè, hơn nữa cũng phải trên chục lồng với đủ kiểu chào mào khuyên yểng, nói thật nhiều lúc chúng kêu đủ váng tai.
Còn có cả hiệp hội chim các miền, các vùng, tỉnh, huyện... cứ đến kỳ, lại tụ họp nhau mở hội thi chim, nói bảo ngoa nhưng đã từng có những chú chim được dân chơi định giá lên đến cả trăm triệu bởi sự độc đáo, riêng có của chúng. Chẳng biết có phải vì cái trị giá ấy không mà người ta săn lùng, chui rúc khắp hang cùng ngõ hẻm để mong đổi đời nhờ chim.
Đứng hàng đầu chắc là họa mi, và thường được đem ví với những ca sỹ có giọng hát hay, truyền cảm, nhưng lại phải là nữ, chẳng ai bảo Trọng Tấn hát hay như chim họa my cả, chỉ có Mỹ Tâm, hay nàng Adele bên Anh quốc xa xôi mới được ví với loài chim này. Nhưng chơi mới biết, hóa ra họa my hót hay lại là chim đực, con mái tưởng gì hóa ra chỉ kêu xùy xùy, có mỗi tác dụng động viên các anh lên giọng hoặc choảng nhau mỗi khi giáp mặt mà thôi
Mới nhìn qua tưởng ai cũng tao nhân mặc khách, nho nhã thâm sâu. Nhưng rồi mới hay phần người ta cũng chỉ chơi theo phong trào, cho đỡ thua chị kém em, hoặc đang cố tìm lợi nhuận ở trong ấy, chẳng thi vị gì đâu.
Xóm tôi có lão kia mới thật dị thường, trong khi thiên hạ đua nhau nuôi và chơi những giống chim quý, đẹp thì chẳng hiểu lão kiếm đâu ra một con cú mèo, cho vào lồng treo ngay trước cửa, bên dưới là bàn cờ lão dùng tiếp bạn bè mỗi sáng. Cứ chiều chiều lúc sắp đổ tối người ta lại nghe tiếng cú kêu, nó vẫn chưa quên những ngày hoang dã. Có người phàn nàn, lão bảo nó hót đấy, nếu hiểu thì con cú chả khác gì những họa mi, cu gáy, khi no bụng hoặc vui thì nó hót lên thôi!

KẾT

Kể ra thì còn nhiều, có khi lan man cả buổi vẫn chưa hết được chuyện về các thú chơi, có món để vui, để lành, nhưng cũng có thứ làm tan cửa nát nhà như không. Nghề chơi quả lắm công phu, nhắn ai mê gì thì mê cũng cứ phải tỉnh táo mà so đo trên dưới. Không chơi cũng phí hoài cái kiếp người, có khi còn làm cho ta trở nên khô khan cứng nhắc bởi chẳng có gì để cân bằng, nhất là trong cái thời cuộc lắm thứ vướng tai này.



HẾT

Thứ Tư, 4 tháng 11, 2015

NGƯỜI ĐẾN SAU ( tiếp theo và chưa hết )


*
*   *

    Chuyến hành quân dã ngoại của lớp Dgk14 đã được hơn một nửa lộ trình, bỏ lại đằng sau những đồng ruộng phì nhiêu của đồng bằng, bây giờ họ đang tiến vào miền trung du. Mồ hôi loang trên lưng áo họ dù trời đã bắt đầu chuyển sang Đông, có vài người còn phanh cả ngực  lúc bắt đầu leo dốc. Nhìn từ xa họ như lẫn vào trong những đám cọ xanh.
    Bỗng có lệnh nghỉ chân ngay sau dấu rẽ trái, cả đoàn quân tản ra tìm vị trí thuận lợi cho mình. Ký ngồi xuống dưới một bụi cọ già, vừa lau mồ hôi cậu vừa lôi tấm bản đồ ra, còn khoảng hơn một trăm km nữa thì đến điểm tập kết, địa hình các lúc càng khó khăn. Với những sinh viên năm cuối, thì cũng không đến nỗi quá sức, bởi Ký biết trên thực tế, nhiều khi người chiến sỹ công an còn phải đối mặt với nhiều thử thách khốc liệt hơn thế nhiều.
   Đang mải nghĩ ngợi Ký không để ý đến một người đang đi đến từ phía sau.

-         Sao, có mệt không?- Vừa ngồi xuống, anh vừa hỏi.
-         Báo cáo, cũng vừa phải! – Theo phản xạ Ký bật dậy.
-         Ngồi xuống đi, tôi mới nhận được chỉ thị trên đưa xuống, ngay chiều nay đồng chí phải có phải tại trường.
Ký ngạc nhiên nhìn thủ trưởng:
-         Có chuyện gì thế anh? Còn hơn trăm cây nữa mới...
Người cán bộ trẻ làm một cử chỉ như là sự đồng thuận:
-         Tôi cũng chỉ biết vậy! Thôi, đồng chí chuẩn bị bàn giao quân tư trang rồi tìm đường ra quốc lộ là vừa đấy.
Nói xong anh đứng dậy đi về phía sau đồi.

*
*   *


Paris nước Pháp.

Tuyết bắt đầu rơi.
Trên con đường nhỏ đang vắng dần, chỉ còn một số ít những khách du lịch là còn lang thang ngoài đường, người ta đang chuẩn bị cho một buổi tối ấm cúng bên những người thân.
Bữa ăn diễn ra trong một căn nhà khá xinh xắn nằm trên một khu phố yên tĩnh, người đàn ông nhỏ bé có mái tóc thưa rất hay cười, liên tục gắp thức ăn cho Minh. Lúc nãy, anh bạn của cậu đã giới thiệu,  ông ta là một nhà báo, đã sang sống ở đây gần mười năm.

-         Các cậu may mắn hơn chúng tôi nhiều, nhiều lắm– Chủ nhà lại lấy vào bát Minh một miếng giò – Thời chúng tôi chả có thông tin gì, nếu biết ngoại ngữ thì còn đỡ, thi thoảng may ra được tờ báo anh em đi công tác mang về, mà cũng là báo lậu đấy nhé.

Nói xong, ông lại cười đầy vẻ thú vị.

-         Nói về nhận thức thì cũng có đấy, nhưng tất nhiên cũng còn tùy vào năng lực của mỗi người – Chủ nhà lại tiếp tục, có vẻ như đã lâu ông ta không có dịp bày tỏ cùng ai đó những suy nghĩ của mình – Hồi ấy, chúng tôi bị ghìm giữ bởi lý tưởng xưa cũ còn thực tế sinh động thì cứ ngồn ngộn trước mặt...
    Vừa ăn, Minh vừa im lặng nghe, nhưng quả thực đến tận lúc này, cậu cũng chưa hiểu một cách rõ ràng những điều vị chủ nhà đang nói.
Dường như biết cậu đang nghĩ gì, ông già nhỏ bé đứng dậy tiến lại gần chiếc tủ nhỏ ở góc phòng, lấy một tờ báo đưa cho Minh.
Đó là một tờ báo xuất bản trong nước, ngay trang đầu một dòng tít khá lớn chạy dài: THỦ TƯỚNG YÊU CẦU XỬ LÝ NGHIÊM VỤ PM16.

-         Cháu vẫn chưa rõ ý bác ? – Minh cầm tờ báo, thành thực hỏi.
-         Thì tham nhũng chứ còn gì nữa, là những người chân chính, chúng ta không thể bàng quang trước những vấn nạn đang làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của đất nước...
   Vị chủ nhà như bước vào mạch, ông ta dừng cả ăn để nói khiến cho Minh và anh bạn đi cùng cũng không dám tự nhiên như lúc đầu.

    Thật ra, những điều mà người đàn ông nọ đang thao thao không làm Minh ngạc nhiên, là người có xu hướng lưu tâm đến những vấn đề tiêu cực trong xã hội cậu cũng nhiều lần bất bình với cái xấu ở xung quanh.

-         ...Phải là các cậu, những người trẻ tuổi, những người có tri thức và đặc biệt cần thiết hơn cả đó là có tấm lòng với đất nước – Chủ nhà càng nói càng hăng – Không thể trông chờ vào điều gì hơn thế, chúng ta phải hành động, hành động ngay...
    Đêm đã khuya, nhưng trong căn phòng nhỏ, cuộc trò truyện của ba người đàn ông nghe chừng vẫn chưa có hồi kết, họ tranh luận, kể cho nhau nghe những câu chuyện về các nhân vật đang tranh đấu cho dân chủ mà họ biết hoặc đọc được trên báo.
Mãi khi đồng hồ điểm mười hai tiếng, họ mới chia tay nhau, mà không quên hẹn ngày tái ngộ.

    Kể từ cái đêm mùa Đông đầy tuyết rơi ấy, Minh dần dà thấy cuộc sống có thêm ý nghĩa, cậu bỗng nhận ra trách nhiệm của người trai với Tổ quốc đang ở trên vai mình. Không có nhiều người hiểu được cậu giống như vị chủ nhà nhỏ con nhưng sâu sắc nọ, ông ta đã chẳng chê cười những suy nghĩ của cậu khi nhận xét về các vấn đề tiêu cực trong xã hội đang diễn ra như nhiều người khác. Trái lại, còn động viên cậu, rằng hãy tranh đấu, nếu không cậu cũng sẽ là kẻ đồng lõa với nó.

    Hôm nay, Minh được mời tham gia buổi nói chuyện về dân quyền do đại sứ quán Hoa Kỳ tại Pháp kết hợp với tổ chức Human right watch sẽ diễn ra trong một ngày tại Marseille, cách không xa khu học xá nơi cậu đang sống. Chiều qua người bạn cùng chỗ làm đã cho Minh biết trước nội dung buổi hội thảo, anh ta đưa cho Minh một tập giấy trong đó có những bài nói chuyện sẽ được đọc lên ở đó. Thực lòng cậu cũng không mấy quan tâm, nhưng vì sự nhiệt tình của anh bạn cộng với sự có mặt của vị trưởng phòng nơi làm việc khiến cậu khó mà từ chối.
    Diễn giả là một người Việt đã tương đối cao tuổi, ông ta đứng trên sân khấu được trang trí với tông màu vàng là chủ đạo, lá cờ ba sọc đỏ treo ngay trên đầu phấp phới bay.

...- Chúng ta phải thay đổi, không còn cách nào khác, bọn cộng sản đang giày xéo quê hương, đồng bào ta đang rên xiết dưới ách thống trị của chúng, hỡi anh em hãy dấn thân, tổ quốc đang đợi các bạn...

Người nọ vừa lau mồ hôi vừa nói lấn đi những ồn ào trong hội trường.

    Minh ngồi sau một người khoác trên mình bộ quần áo lính thủy đánh bộ, ông ta im lặng ngồi nghe. Thi thoảng lại rít một hơi thuốc rồi nhả khói đầy lãnh đạm.

-         Bây giờ đến phần phát biểu của các bạn trẻ, thế hệ tương lai của đất nước, xin mời bạn Hoàng Minh, một du học sinh đầy tài năng, anh ta đã có những tiến bộ mới trong nhận thức, hãy nghe anh nói!

    Minh bối rối, lúng túng đứng dậy, cậu thì biết nói gì? Chợt người bạn tiến lại gần đưa cho Minh mấy tờ giấy:
-         Đây, cậu cứ đọc theo nội dung này, không sao đâu!
-         Ơ, nhưng mà tớ...
Chưa nói dứt câu Minh đã bị đẩy lên gần sân khấu, bỗng có ai vỗ vào lưng cậu. Minh quay sang thì nhận ra vị trưởng phòng nơi cậu làm thêm:
-         Cố lên, anh bạn trẻ, chúng tôi tin cậu!
Tiếng hoan hô vang lên, xung quanh là một màu vàng chói. Minh cập cập đứng trước micro.

...- Thưa quý vị....

Rồi cậu cứ thế đọc, cậu thấy loáng thoáng những từ, câu: Vì dân chủ...loài người tiến bộ...vv...

Đọc xong, Minh vã cả mồ hôi, khán phòng lại vỗ tay rôm rả.

-         Chúc mừng, chức mừng cậu! – Vị trưởng phòng tiến lại phía Minh hớn hở.
Về chỗ ngồi một lát Minh mới hơi bình tâm, cậu lại nghe thấy trên loa những cụm từ : Đấu tranh...giải phóng...

*
*   *

    Trong số những hòm tài liệu mà luật sư trưởng giao cho Mai chuyển vào miền trong có một thùng cactong không ghi địa chỉ người nhận, anh ta chỉ dặn cô lưu ý tránh để thất lạc vì nó rất quan trọng. Thực ra thì mấy lần trước Mai cũng đã làm việc này rồi và chính Lê Công đã úp mở với cô rằng thứ đó còn quan trọng hơn cả những gì mà anh ta đang có. Phải hết sức thận trọng nếu không sẽ chẳng còn gì.
    Cũng đã gần một năm nay, ngoài công việc ở văn phòng luật sư, Mai còn được Lê Công cho tham gia vào công ty với chức danh thư ký riêng. Cô thường xuyên tham gia vào các buổi tiếp khách, ký kết hợp đồng thậm chí có đôi lần cô còn thay mặt anh ta thực hiện những đơn hàng nhỏ.
Mà chẳng hiểu sao sếp của cô cũng nhanh chóng đồng ý với Lê Công khi anh ta ngỏ ý xin cô về làm với anh ta.
    Thực ra hai công việc này cũng không quá khác nhau, thì vẫn là làm sổ sách giấy tờ, lên kế hoạch vv... những việc mà Mai đã quá quen thuộc.       Chỉ có điều tuy không thực  sự rõ ràng nhưng cô vẫn nhận thấy sự liên quan giữa văn phòng luật và doanh nghiệp của Lê Công là khá mật thiết. Có điều, cái sự gắn bó ấy mang đến cho người ta cảm giác có gì đó khá mờ ám. Nhưng cô cũng hiểu trong làm ăn, không phải cái gì cũng phải phơi hết ra ngoài.
    Cho đến chiều hôm qua, sau cuộc mây mưa, Lê Công bảo có chuyện quan trọng muốn trao đổi, thái độ ấy khiến Mai khá hồi hộp. Cô vừa tò mò, vừa thích thú vì đây không phải là lần đầu người bạn tình của cô mang đến sự bất ngờ.

Vẫn quấn ngang bụng chiếc khăn tắm, Công ngồi trên chiếc xô pha với ly vang đỏ, anh ta vừa nhấm nháp vừa từ tốn nhìn cô:
-         Em ạ, tháng sau công ty có việc phải sang châu Âu, chuyến đi này tương đối dài, anh thì bận nhiều việc nên muốn cử em thay mặt công ty, anh muốn em chuẩn bị tinh thần.
Mai tròn mắt ngạc nhiên:
-         Em thì biết gì mà đi anh!
-         Anh đã chuẩn bị hết rồi, em chỉ việc ký tên thôi! Xong việc là có thưởng lớn, cái đó chắc là em biết...- Vừa nheo mắt nhìn cô, anh ta vừa nhếch mép cười.
Quả vậy, chỉ sau quãng thời gian ngắn ngủi ở bên anh ta, Mai gần như đã có đủ những thứ mà trước đây dù có nằm mơ cô cũng không biết đến. Mà nói thật lòng chứ, bây giờ cô thấy thấy thật khó để rời được Lê Công, vì nếu thế chẳng khác nào bỏ đường quang mà tìm bụi rậm.

-         Vâng thế thì em xin nghe lệnh sếp! – Mai nũng nịu sà vào lòng người tình.
-         À, có thể sẽ có một vài đối tác người ngoại quốc, tất nhiên là đã có phiên dịch, nhưng anh muốn em trực tiếp làm việc với họ, chắc chắn hiệu quả sẽ cao hơn, thế nào, vốn tiếng Anh chắc là đủ dùng chứ cô cử nhân?
Mai khẽ nhún vai đầy tự tin, đúng ra ngoại ngữ mới là thế mạnh của cô bởi vì suốt từ những năm học phổ thông đến đại học, chưa khi nào cô đứng thứ ba trong lớp.
Công cũng nhìn cô cười, cô ta đâu biết rằng trong số những giấy tờ cô sẽ mang theo có những tài liệu mà chẳng bao giờ cô biết được.
Dốc nốt ly rượu, Lê Công choàng tay qua eo Mai, trong chốc lát hai kẻ say tình lại cuộn lấy nhau.




2  –  NGƯỜI ĐẾN SAU

    Chuyến bay thẳng từ Hà nội đi Amxtecdam khởi hành muộn hơn dự định gần 20 phút, khi nó đã đạt độ cao tiêu chuẩn, Ký mới cảm thấy tương đối thoải mái. Anh  xin một chai nước khoáng khi cô tiếp viên xinh đẹp hỏi anh dùng đồ uống gì, thực lòng anh hơi áy náy khi mà chỉ có một dòng tin nhắn về nhà trước khi nhận nhiệm vụ. Nhưng, công việc là công việc, mà anh không thể biết được thời hạn của chuyến công tác này.

-         Từ bây giờ đồng chí là Triệu Quang, sinh viên ngành công nghệ thông tin năm thứ ba. Sang Bỉ du học vì nhận được một suất học bổng của tổ chức Nhà báo không biên giới dành cho những sinh viên có thành tích học tập tốt và có xu hướng đấu tranh cho dân chủ.

    Những lời dặn dò của đồng chí cán bộ cấp cao hôm kết thúc khóa học đặc biệt cách đây hai tháng Ký vẫn nhớ rõ . Và anh hiểu được sự tin tưởng mà cấp trên dành cho anh.

-         Còn làm thế nào để trở thành người trong tổ chức của họ, thì hoàn toàn do đồng chí tự định liệu. Hộp thư liên lạc sẽ được thông báo sau, chúc đồng chí gặp nhiều thuận lợi và hoàn thành tốt nhiệm vụ!

Còn hơn bốn giờ bay nữa mới đến châu Âu, kéo cổ áo lên đôi chút Ký nhìn đồng hồ. Tự dưng anh muốn chợp mắt một lát.


*

*   *

Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2015

NGƯỜI CUBA

Tôi không rõ lắm chuyện ông Phi đen khi xưa vì sao không chọn chủ nghĩaTư bản làm lý tưởng phấn đấu cho mình, khiến cả đất nước phải chịu cảnh thiệt thòi suốt hơn nửa thế kỷ, thay vì lẽ ra thế giới đã có một Cuba hùng cường, bởi rất nhiều thế mạnh mà quốc gia này may mắn được sở hữu.
Nhưng tôi lại vô cùng ấn tưởng với những thước phim chiếu cảnh ông ta mặc quân phục, đeo súng bên hông đi vào tận vùng chiến thuật ở trên dãy Trường Sơn để thị sát tình hình chiến sự. Nếu như ở vào thời điểm đó công nghệ thông tin phát triển như bây giờ thì đây chắc chắn sẽ là một động lực vô cùng mạnh mẽ cho những người lính đang chiến đấu ở ngoài chiến trận. Không có cái thực tâm của những người đồng chí, không có sự vô tư trong sáng của lý tưởng vô sản, thì sẽ chẳng bao giờ ông ta mạo hiểm thực hiện chuyến đi đó.
Rất có thể trong giai đoạn ấy, sự ngộ nhận về ý thức hệ vẫn còn là một rào cản trong tư duy của rất nhiều người, và tất nhiên, có ông ta. Dù vậy tôi vẫn nghĩ rằng còn những lý do khác nữa đến từ người Mỹ, rất có thể họ đã làm điều gì đó khiến cho ông, một dạng anh hùng hảo hán kiểu Hạng Võ phải phật lòng.
Nếu như Bá Vương nhận lấy sự thảm bại sau năm năm cầm quyền bính trên bến sông Ô, thì Phi đen âm thầm chịu đựng sự thất bại kéo dài nhiều năm sau đó. Ấy là ông đã không làm cho dân chúng trên hòn đảo nọ được ấm no, hay nhiều hơn hữa là giàu có, sung túc, ông không đưa được Cuba trở nên cường thịnh như từ sâu thẳm trong tâm hồn ông vẫn luôn mong như vậy. Riêng với tôi đó là một điều đáng tiếc.
Nhưng cái tình của người Cuba với Việt nam là điều không bao giờ phủ nhận được, lúc ấy có dư dả gì đâu, thế mà họ, vẫn gửi đường, lương thực và nhiều thứ khác cho chúng ta trong những ngày đen tối nhất.Điều quan trọng mà tôi muốn nhấn mạnh ở đây là sự giúp đỡ ấy nó vô tư, chân thành, khác với kiểu tương trợ có toan tính của một vài người “ bạn lớn ” nào đó vốn luôn to mồm xưng là đồng chítốt với chúng ta.
Trong cuộc gặp gần đây của ông quốc trưởng với những người anh em Cu ba xưa, dù chỉ được xem qua truyền hình tôi vẫn cảm nhận được sự chân tình đến từ phía họ và nó mang đến một nỗi xúc động rất riêng cho cá nhân tôi khi một đồng chí – tôi vẫn muốn gọi như thế - cao tuổi đứng lên nói rằng; Ông chủ tịch thấy đấy, tóc chúng tôi nay đã trắng cả rồi nhưng tình cảm dành cho cho Việt nam thì vẫn như hồi trai trẻ mà thôi...Viết đến đây tôi chợt nhớ mấy câu thơ xưa:
Người lính già đầu bạc
Kể mãi chuyện Nguyên Phong
Từ đáy lòng mình tôi thầm mong cho họ - những người anh em ở bên kia bán cầu – sẽ nhanh chóng hòa nhập với thế giới một cách mạnh mẽ sau giấc ngủ dài, để chỉ nay mai thôi, Cuba sẽ là một ngôi sao sáng bên cạnh nước Mỹ đang mở rộng lòng mình.
Để tôi luôn được tự hào với những dân tộc khác rằng chúng ta có một người bạn, người đồng chí như thế.

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2015

NGƯỜI ĐẾN SAU

Truyện này dài lắm - đành post từng phần -

NGƯỜI ĐẾN SAU

Truyện dài của Bế Mạnh Đức

Câu chuyện kể về  cuộc chiến của cơ quan anh ninh Việt Nam với những phần tử phản động, lợi dụng chiêu bài dân chủ hòng mưu cầu lợi ích cá nhân. Bọn chúng phần lớn là những kẻ cơ hội chính trị, háo danh, tội phạm, sa đọa... chứ thực ra chẳng phải vì lý tưởng nào cả...
Bàn Xuân Ký ( Triệu Quang ) một sinh viên nghành An ninh vừa ra trường, với tố chất đặc biệt anh được chọn làm người nằm vùng. Từ đây, anh đã có một hành trình đầy gian nan khi phải hoạt động đơn tuyến trong lòng những kẻ phản động.

Câu chuyện bắt đầu.


 1 – CỜ VÀNG

Marseille – Pháp.

Trên mỏm đồi nằm trong khuôn viên của trường Aix Marceille có một nhóm người châu Á trẻ tuổi đang thư giãn dưới ánh nắng nhẹ của một ngày mùa Thu. Họ, kẻ nằm người ngồi, có người cầm theo cả sách. Cỏ mùa này không được xanh như hồi  tháng trước mà đã hơi chuyển sang vàng, cách đó không xa, mấy cây phong cổ thụ thi thoảng lại rải một lớp lá, lá theo gió bay xuống tận chân đồi.
Minh dựa lưng vào chân ghế đá, miệng ngậm một cọng cỏ, mắt lơ đãng nhìn ra phía xa nơi có những toàn nhà ẩn hiện sau hàng cây to, xa hơn nữa là Địa Trung Hải mêng mông.  Ba năm ở đây chưa khi nào Minh thấy chán cảnh trời trong xanh và nắng nhẹ mỗi khi mùa Thu đến. Dù thật lòng có lúc cậu cũng nhớ quay quắt mùi hoa sữa trên đường Nguyễn Du.
Chợt điện thoại rung nhẹ, à một cuộc hẹn lúc bốn giờ. Dòng chữ nhắc nhở kéo cậu trở lại hiện tại.
 Người phụ nữ lạ mặt hôm trước đã khiến cậu đi từ cảnh giác đến tò mò, chị ta đang có một lời đề nghị cộng tác. Tất nhiên, cũng chưa có gì, tất cả cũng chỉ là hai cuộc nói chuyện, chủ yếu xoay quanh nghành học của Minh.
Hôm qua, chị ta lại gọi và đề nghị được gặp Minh tại một quán caphê ngay cầu cảng, những giấy tờ mà người phụ nữ nọ muốn xem cậu đã chuẩn bị đầy đủ. Cũng chỉ là vài dòng trích ngang và điểm số kỳ học gần nhất mà bất cứ sinh viên  nào muốn làm thêm cũng đều phải trình cho đối tác.
Cơ hội việc làm đến với Minh giống như một sự may mắn tình cờ, sang đây với học bổng toàn phần, nhưng có rất nhiều những khoản phụ trội khác phải chi trả, nhà nghèo, chẳng còn cách nào khác ngoài, bố mẹ cậu đã phải vay ngân hàng để gửi tiền cho cậu, khiến Minh chẳng lúc nào yên lòng. 
Còn 30 phút nữa là đến giờ hẹn.


*
* *




 Việt Nam.
Trên một con phố khá yên tĩnh, văn phòng luật sư“ Trần và cộng sự” nằm ngay dưới một tán sấu già, phía trong mấy nhân viên tập sự đang cắm cúi vào chồng hồ sơ cao ngất ở trước mặt, họ có rất nhiều việc phải làm. Không có ai để ý đến một người vừa bước vào, sau vài giây lưỡng lự, anh ta đi về phía cầu thang dẫn lên tầng trên, ngay khi cô tiếp tân kịp đứng lên.
Trước khi đặt chân lên bậc thang đầu tiên người này còn ngoảnh về phía cô gái đang hơi lúng túng làm một cử chỉ giống như là sự trấn an, anh ta chỉ tay lên trên rồi nhoẻn miệng cười. Việc một thân chủ có quen thân với luật sư là khá bình thường và họ có thể hẹn với nhau mà không cần thông qua thư ký cũng không có gì lạ, nếu chăng thì chỉ là do sự lơ đễnh của người lãnh đạo văn phòng đã không kịp thông báo cho cô mà thôi. Nghĩ vậy, cô cũng lịch sự cười đáp lễ trước khi người nọ khuất sau cầu thang.
Công việc của một sinh viên luật mới ra trường không hề giống với những gì mà cô gái vẫn nghĩ, chẳng thế mà giờ đây cô đang đứng trước cửa phòng luật sư trưởng với hai tách càphê trên khay, có khi họ còn muốn uống thêm thứ gì đó mà văn phòng không sẵn. Những lúc như thế cô lại phải chạy sang bên kia đường nơi có cửa hiệu tạp hóa khá lớn, và bà chủ thì đã quen mặt cô từ bao giờ.

-         Cứ để đấy đấy đi – Luật sư trưởng cất giọng trầm ấm sau khi cô đã ở trong phòng.

Người khách khi nãy lại mỉm cười với cô, nụ cười của anh ta rất sáng và việc sở hữu một gương mặt trông minh  khiến cho chủ nhân của nó có thừa vẻ hấp dẫn.
Cô gái trẻ bỗng thấy bối rối, hình như má cô bắt đầu hồng lên. Sau khi đặt đồ uống xuống cô xin phép ra ngoài trong khi tim bắt đầu hơi loạn nhịp.

Đúng lúc cô định khép lại cánh cửa phòng thì lại có tiếng của sếp:
-         À này...

*
**

Marseille – Pháp.

Minh  rời xe buýt ở bến số 12, cầu cảng ở đằng kia, cậu muốn đi bộ một quãng, mùi của biển chiều phả mạnh vào mặt Minh nồng nồng. Cái dáng cao nhưng gầy gò của cậu có vẻ chẳng vững vàng mấy trước sự mêng mông của biển cả.
Vẫn chiếc khăn voan đen và cặp kính sẫm màu, người phụ nữ Minh gặp hôm trước đang ngồi nhả khói sau chiếc bàn đơn, nhìn chị ta chẳng khác nào một quý bà rảnh rỗi và đầy đủ đang tìm cho mình những giây phút riêng tư.
Sau ngụm càphê chị ta tháo kính đặt nó lên bàn và bắt đầu nói:

-         Như tôi đã thông tin cho cậu, công ty chúng tôi đang nghiên cứu một loại thuốc chữa hen suyễn mà thành phần chủ yếu là các loại thảo dược đến từ vùng nhiệt đới,  cũng đúng là nghành học của cậu...à năm mấy rồi nhỉ?
-         Dạ em năm cuối! – Minh rụt rè trả lời
Người đối diện lại rít một hơi thuốc nữa, đó là là hơi cuối cùng của điếu malborro trắng, chị ta di di nó trong cái gạt tàn một cách chậm rãi như muốn đắn đo điều gì.
Câu chuyện của họ kéo dài cho tới tận lúc đèn đường được bật lên, nếu đứng ngoài cửa kính mà nhìn vào thì ai cũng nghĩ đây là một cặp nam nữ đang ở giai đoạn làm quen và mọi thứ có vẻ đi theo chiều hướng tốt khi mà thi thoảng cô gái lại cười phá lên, còn chàng trai chốc chốc lại vui vẻ gật đầu.
 Lúc rời khỏi bàn người phụ nữ đưa cho Minh một tấm danh thiếp. Cậu cầm nó và đọc thấy một địa chỉ ở Paris, hình như là một văn phòng đại diện của một hãng dược phẩm.
-         À này, tôi cũng từng sống bốn năm ở Hà nội đấy – trước khi khuất sau cánh cửa, chị ta hơi dừng lại chìa bàn tay ra – Tôi cũng thấy nhớ những chiều Hồ Tây lộng gió, cả cái màu tím của bằng lăng nữa...haiza, không biết khi nào lại được về thăm...
Bỏ lửng câu nói, chị ta một lần nữa gật đầu chào Minh rồi duyên dáng bước ra ngoài.

*
**

Hà Giang, Việt Nam.

Bản làng vẫn chìm trong mây phủ, những ngày chớm Đông năm nào cũng thế, chỉ khi mặt trời  lên quá ngọn Pia Djang thì bản người Dao mới bắt đầu lấp ló hiện ra trên sườn những quả đồi cao.
Gia tộc họ Bàn sinh sống ở đây chẳng biết từ khi nào, chỉ thấy những mái ngói đã phủ vài lớp rêu, nó cũng không hẳn xanh có khi còn lẫn cả sắc đỏ tía nữa.
Sau bờ  tường được xếp bởi những viên đá là khoảng sân rộng, lẫn trong sương có bóng một chàng trai đang mải mê đi quyền, những động tác dứt khoát, mạnh mẽ khiến cho người xem như được truyền thêm sức sống.
Phía xa dưới hiên ngôi nhà hai gác được làm từ những thân gỗ lớn, người đàn ông chỉ còn một tay đang nheo mắt dõi theo từng động tác múa quyền ngoài kia. Thi thoảng ông lại gật gù, nhưng có đôi lúc ông cũng nheo mắt khẽ lắc đầu.
Sau thét Kiai dữ dội tốc độ của anh ta dần chậm lại rồi dừng hẳn. Vuốt mồ hôi trên thái dương anh tiến lại gần hiên nhà.
-         Bố thấy sao? – Vừa hỏi anh ta vừa đưa tay với chai nước
-         Ấy đừng, đang này lúc lỗ chân lông nở to không nên uống nước con ạ, đợi vài phút đã.
Người đàn ông một tay vừa vỗ vai chàng trai vừa ôn tồn nói:
-         Có tiến bộ, nhưng vì đây là bài quyền cổ nên con cần có thời gian để nghiền ngẫm hơn.
-         Ở trường con, các thầy cũng bảo, hệ phái này đang ít dần, ngay cả ở Nhật người ta cũng chỉ truyền trong dòng họ hoặc người thân tín mà thôi. À, bố vẫn chưa nói cho con biết lý do bố thành thạo môn này đến vậy?
Người đàn ông lớn tuổi trầm ngâm giây lát rồi gật gù kể:

-         Năm 1957, ông nội con trở về từ Tây Bắc, cùng đi có một  người mang quân hàm đại úy, nhưng đó lại là một người Nhật, ông nội kể, trước đây ông ấy chiến đấu trong quân đội Thiên Hoàng, đến Việt Nam từ năm 43, sau được ta giác ngộ nên đã trở thành lính cụ Hồ.
Họ cùng đánh trận Điện Biện, rồi tình cờ biết ông con đang là truyền nhân thứ 7 của môn võ dân tộc Dao, vị đại úy nọ vốn là một cao đồ của môn Không Thủ Đạo đã gửi lời thách đấu.
Ông nội con không kể về trận đấu đó, chỉ biết rằng không lâu sau  họ nhanh chóng trở thành bạn của nhau. Ông ấy đã ở nhà mình gần 3 năm trước khi về Nhật Bản.

-         Lúc đó bố bao nhiêu tuổi? – Người thanh niên tò mò hỏi.
-         Khoảng sáu bảy tuổi gì đó, suốt thời gian ấy ông nội con và người chiến binh ngoại quốc nọ thay nhau chỉ dạy những kỹ thuật đặc sắc của môn phái mình cho nhau, tất nhiên bố là người được lợi hơn cả...

Nói đến đây, ông cười vang, nghe tiếng cười ấy ai cũng sẽ đồng ý rằng chủ nhân của nó phải có sức khỏe rất tốt, chưa kể còn là một người mang nội lực cao thâm, ít gặp trong đời.

-         À... đợt này con được nghỉ lâu không? – Lúc này, hai cha con đã gọn gàng trong bộ trang phục thường ngày, họ ngồi bên chiếc bàn ăn bằng gỗ lâu năm lên nước màu đen bóng.
Vừa hút những sợi mì to, một đặc sản của quê nhà vào miệng, vừa xít xoa vì cay, chàng thanh niên ngước lên:

-         Hết tuần này bố ạ, trường con đang chuẩn bị cho đợt dã ngoại dài ngày, ngoài giáo viên của trường còn cả các chuyên viên trên Bộ xuống, con muốn về nhà thư giãn mấy hôm, chắc là khá căng bố ạ!
Ông bố ngừng ăn chăm chú nhìn đứa con trai, mới ngày nào cái thằng Ký còm nhomsuốt ngày chạy theo đòi ông dạy bắn nỏ, thế mà bây giờ trước mắt ông nó đã là một cậu sinh viên năm cuốitrường An ninh rắn rỏi, đầy sức sống...

-         Ông có lấy thêm không? – Tiếng người phụ nữ vọng lại từ phía bếp khiến ông ra khỏi dòng suy tưởng, bà đang làm món gì đó cho hai bố con.
-         Thôi bà ơi, mà bà lên đây ăn cùng bố con tôi đi...

*
**
Hà nội Việt Nam

Mai ngồi tần ngần bên cửa sổ, cô cứ xoay xoay trên tay chiếc điện thoại đắt tiền mà Lê Công tặng hôm qua. Đúng là đại gia có khác, từ khi được luật sư trưởng cho làm phụ tá chính chịu trách nhiệm vụ kiện tụng liên quan đến doanh nghiệp của Lê Công, Mai mới biết thế nào là cuộc sống của những người có tiền.
Lại có tin nhắn,  người yêu cô, anh ta muốn nhân buổi chiều đẹp trời cùng cô dạo một vòng Hồ Tây, nhưng cứ nghĩ đến cảnh phải ngồi sau chiếc xe máy cũ chạy lạch xạch, run rẩy Mai lại thấy sao mà ngán ngẩm, lại còn cái vụ xếp hàng mua đồ uống nữa mới rõ bực mình.
Cô thấy nhớ hơn chiếc ghế mềm êm ái của chiếc Audi thơm tho cùng với những nhà hàng sang trọng mà mỗi lần bàn công việc Lê Công lại đưa cô đến.
Anh ta cũng vừa hẹn sẽ gặp cô chiều nay.
“ E ban roi” – Đó là mẩu tin cuối cùng mà Mai gửi đi cho chàng người yêu nghèo. Trước khi đóng cửa sổ căn phòng trọ trên gác năm cô còn nhìn thấy chiếc xe máy màu xanh quen thuộc buồn bã chầm chậm khuất sau góc phố.
-         Sau cùng thì đám ấy cũng chịu rút đơn – Vừa nâng ly rượu vang ánh đỏ, Lê Công vừa cười – Có gì đâu, ai mà chẳng thích tiền, có thể không thích ít nhưng nhiều thì...ha...ha..ha... mà công lớn cũng là của em đấy, người đẹp ạ!
Giờ đây họ đã yên vị trên chiếc tàu thủy đang chầm chậm trôi giữa hồ rộng, chỉ có hai người trong một phòng vip. Mai e lệ nhoẻn cười rồi nhấp một hớp rượu.
-         Tay giám đốc Sở  tài nguyên thế mà lại được việc, nhưng nếu anh không có lời hứa cho thằng con ma cà bông của lão được sang Anh du học thì chắc là cũng còn lâu – Lê Công lại tiếp tục ồn ào.
-         Mà cái thằng của nợ ấy thì học hành cái gì cơ chứ, nhưng đời mà...thôi ăn đi em, này em xem, mặt trời đang sắp lặn rồi kia kìa.
Ở phía Tây, cái quả cầu đỏ rực đang chui dần xuống mặt nước, hình như nó to hơn bình thường thì phải.
Mai lại khẽ nhìn sang người đàn ông đang hả hê trong nỗi vui mừng thắng lợi, người ta cứ bảo bọn gian thương thế này thế kia, chỉ có biết đến lợi nhuận, tiền là trên hết, nhưng Lê Công lại mang đến cho cô một cảm nhận khác, rất nhiệt tình, sôi nổi nhưng cũng không kém phần lãng mạn. Mà có tiền thì có gì sai. Người ta sẽ được sống nhiều hơn, được biết nhiều hơn, anh ta lại nói rồi con người ta sẽ quan niệm về cuộc sống theo từng giai đoạn của cuộc đời.
Có lẽ đúng, thời sinh viên với những chiều đạp xe vội vãtrong cơn mưa, rồi bữa cơm đạm bạc nhưng đầy ắp tiếng cười...có lẽ chỉ đẹp trong ký ức...còn hôm nay mọi thứ sẽ phải khác đi, mình có sắc đẹp, có học vấn, lại thông minh, con đường trở thành một quý cô đang ở phía trước. Nghĩ thế Mai lại mỉm cười rồi chủ động nâng ly về phía người đàn ông lịch lãm ngồi đối diện.

Đêm ấy cô không về căn gác trọ cũ.

Mai cũng chẳng biết mình đã tắt máy khi nào, cô chỉ nhớ khi chiếc váy đỏ tuột khỏi vai cũng là lúc những nụ hôn nóng bỏng của Lê Công bắt đầu tràn ngập khắp cơ thể cô.

*
*   *

Paris nước Pháp.

Minh hơi ngại ngần khi đứng trước dãy nhà đồ sồ nằm ngay trên quảng trường, dù đã gọi điện trước nhưng quả thực việc gặp gỡ với đại diện của một hãng dược phẩm là điều cậu chưa từng nghĩ đến. Thực tình, Minh không phải là người giỏi nhất trong số những du học sinh đang theo học nghành dược ở bên này, thậm chí có một số môn cậu còn phải thi lại.
Ấy là chưa kể không ít lần Minh còn công khai chỉ trích bọn người mượn tiếng du học để tiêu tiền, cậu còn biết rõ những kẻ khi còn ở trong nước vốn là học sinh cá biệt, thế mà chả hiểu sao lại xuất hiện ở bên này, những người ấy  rồi sẽ lại vênh vang khi trở về với tấm bằng ngoại quốc. Và cũng lại lòe được khối người, với cái mác du học, cộng với tiền của gia đình họ sẽ lại được cơ cấu vào trong những cơ quan nhà nước với vị trí mà nhiều người  mơ ước, lại còn được tiếng là đem kiến thức về xây dựng đất nước. Thực ra, với trình độ và tư cách như họ, bên này chả có công ty hay tổ chức nào chấp nhận cả. Những người như thế sẽ làm hay phá đây? Cậu cũng hay nói đến những tiêu cực trong thi cử, trong đời sống khi còn học trong nước, hay thậm chí cậu còn ủng hộ những cuộc biểu tình tự phát ở Hà Nội hồi năm ngoái.
Tóm lại, nếu để lựa chọn Minh chẳng thể là một ứng viên tiềm năng.

Đón cậu lần này không phải là người phụ nữ xinh đẹp quý phái hôm nào, mà là một người đàn ông với bộ vét cắt khéo ngồi sau chiếc bàn gỗ sồi, ông ta lịch sự bắt tay Minh theo kiểu vẫn thấy ở những người phương Tây, Minh đồ rằng ông ta đã sống nhiều năm ở đây rồi.
-         Thế này nhé, à chúng tôi đã được đọc báo cáo về cậu, mọi thứ đều ổn cả, ổn cả...
Ông ta vừa xoa hai tay vào nhau vừa hơi nghiêng mình về phía Minh vừa cất giọng nói, cái cử chỉ ấy khiến cho cậu thấy mình được quan tâm nhiều hơn.
-         Hình như quê gốc cậu ở Nam Định phải không?
Minh hơi mỉm cười, cậu có cảm tưởng người ta biết về cậu nhiều hơn những gì cậu đã viết.
-         Vâng, đúng rồi, bố mẹ cháu chuyển công tác lên Hà Nội lúc cháu đang học dở cấp 2.
-         Tôi cũng quê Nam Định, nhưng gia đình di cư vào Nam từ hồi năm tư, khi ấy tôi còn trẻ hơn cậu bây giờ, rồi tôi cứ đi mãi, chưa khi nào có dịp về thăm quê...
Nói đến đây ông ta dừng lại đi đến bên cửa sổ, Minh thấy ly trà trên tay ông ta hơi rung lên.

Sau buổi chiều hôm ấy Minh bỗng trở thành một người bận rộn, mỗi tuần ba lần cậu lại đi tàu điện ngầm từ Marseille lên Paris để vào làm cho một phòng nghiên cứu nhỏ chuyên về các loại thảo thược phương Đông. Có những hôm thậm chí Minh còn phải ngủ lại vì công việc.
Mỗi lần như thế cậu lại được người bạn cùng phòng dẫn đi chơi ở các hộp đêm, hay quán ba nào đó, quả là có nhiều thứ khác xa so với cái thành phố cảng nơi cậu đang theo học.
Paris cũng là nơi thường diễn ra các cuộc đình công của thợ thuyền, sinh viên...Không biết do vô tình hay sao mà mỗi khi có một cuộc lãn công nào diễn ra người bạn nọ lại rủ Minh tham cùng xem, cũng có đôi lần họ hòa mình vào đám đông ấy, và hô lên vài khẩu hiệu gì đó.

-         Đấy, cậu thấy không, người ta dân chủ như thế cơ mà, có khi chỉ cần hơi chạm chút ít đến quyền lợi thôi là họ tổ chức nghỉ việc, xuống đường ngay.
Minh gật gù khi nghe anh ta nói, cậu cũng thấy lạ, chẳng hiểu người ta lấy thời gian ở đâu mà suốt ngày biểu tình như thế.

Mà, công việc ở phòng nghiên cứu sản phẩm cũng khiến Minh thấy có gì đó là lạ, với vốn kiến thức đã học cậu nghĩ sẽ phải làm điều đó quan trọng hơn là chỉ ngồi phân tích mấy mẫu tảo châu Á rồi viết vài trang báo cáo. Còn một điều nữa, đó là tiền lương mà cậu nhận được cao hơn hẳn so với những gì Minh nghĩ, cả mấy người bạn cùng phòng cũng tròn mắt ghen tỵ khi biết khoản thu nhập của cậu.

Sau hai tháng đi làm thêm, Minh thông báo về nhà là không cần gửi tiền sang nữa.

Một hôm, sau giờ làm việc, người đồng ngiệp vỗ vai Minh:
-         Hôm nay, tớ sẽ giới thiệu với cậu một người mà chắc chắn là sẽ mang đến cho cậu nhiều cảm xúc.
Dưới trường cũng đang được nghỉ, chẳng suy nghĩ nhiều, Mình đồng ý ngay.

*

*   *

Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2015

MỘT CHUYẾN ĐI

MỘT CHUYẾN ĐI


Truyện phiêu lưu, săn tìm cổ vật của Bế Mạnh Đức



1- CHÙA HOANG GIỮA ĐẠI NGÀN
 
Một ngày, cuối mùa Thu tôi nhận được cú điện thoại.

- Anh xuống ngay, không lại tiếc…
-         Nhưng… có chuyện gì vậy?
-  Hàng đẹp!
Chỉ thế rồi cúp máy. Cô này vẫn vậy, tiết kiệm đến bần tiện. Nghe thế, tôi vội vàng dắt xe ra cửa .

Ngồi trong phòng khách, ngoài cô chủ hiệu đồ cũ còn một người nữa, tay này mặt choắt, mũi diều hâu, thoạt nhìn tôi đã ngần ngại. Đó là một người thu mua phế liệu, họ chạy xe máy, đi rất xa, vào tận các bản làng, vừa đi vừa mở loa thông báo thu mua các loại đồ cũ.

Chào hỏi xong, cô chủ chỉ vào người nọ bảo:
-         Đây, anh này!

Anh ta nhìn tôi gật đầu chào tay vẫn cầm chiếc điện thoại, anh bấm bấm, rồi đưa tôi, à thì ra là những  ảnh chụp. Một chiếc đèn bằng đồng.

-         Họ đòi cao quá em không dám mua, chỉ chụp lại, bác xem có lấy được thì em mua giúp!

Mấy hôm sau, chiếc đèn dầu lạc thời tiền Lê đã chễm chệ trên bàn nhà tôi.

Đó là một tác phẩm được làm thủ công khá cầu kỳ, có điều lạ là thường nó có màu đen bóng nhưng nếu dùng khăn chà mạnh thì lại chuyển dần sang đỏ đậm. Tôi chắc đây là một vật quý.

Được vài hôm, thì tay thu mua đồ cũ lại gọi. Hắn thông báo có hàng, nhưng phải đi xa. Thú thực, lúc nghe hắn nói tôi đã tính từ chối, nhìn tướng mạo hắn chẳng thể tin sẽ có chuyện tốt, nhưng cái máu ưa sự mạo hiểm đã trỗi dậy. Cuối cùng bọn tôi thống nhất đi vào cuối tuần.
-         Em cũng chỉ nghe nói, dân trong ấy không dám vào đó. Biết bác là tay dày dạn nên em rủ, à bác nhớ đem theo dụng cụ.

Gọi là dụng cụ chứ thật ra chỉ là cái máy dò kim loại, vài lọ hóa chất,  cái xẻng nhỏ, búa... Dù vậy cũng gần lưng balo, đã đi xa nhiều lại hay vào những vùng hẻo lánh nên lúc nào trong ấy tôi cũng để sẵn dao, bật lửa, thậm chí cả dây câu.
Sau gần nửa ngày, chúng tôi vào một xã vùng biên, đến cả cái tên tôi cũng chưa nghe bao giờ, xã Nậm Kho.
- Phải gửi xe ngoài này, đi bộ thôi.- Người đưa đường ái ngại nhìn tôi.
Đi cũng đã nhiều, nhưng quả thật chưa bao giờ tôi đến một nơi như ở đây, đó là một vùng hiểm địa, người ta đào ngang dãy núi tạo ra một con đường cheo leo, chỉ đủ lối chân người. Một bên là vách đá, bên kia sâu hút, phía dưới lấp ló dòng suối nhỏ. Vừa đi tôi vừa nghĩ; “ Nếu sểnh chân thì…” – nghĩ đến đó rồi thôi, không dám tiếp.
Quanh co đến chiều thì bắt đầu xuất hiện nhà dân. Một bản người Dao khá quần tụ trên mấy quả đồi.
Tay dẫn đường đưa tôi vào một căn nhà trình tường thấp lè tè.
Ngoài hiên, có anh chàng ngồi ủ rũ tóc tai bù xù, với đôi mắt đờ dại.

-         Lâu lắm rồi, không ai dám vào, liều như bọn thanh niên lấy được vài thứ về bán rồi điên hết. – Ông chủ nhà buồn rầu chỉ ra ngoài cửa.

Sáng hôm sau, tôi và người bạn đồng hành chào chủ nhà rồi lên đường, thì ra tay này đã biết lối nhưng chắc thiếu kỹ năng tìm kiếm nên mới nhờ đến tôi. Lúc ngang qua người thanh niên dở người tôi bỗng có cảm giác là lạ, bước thêm vài bước tôi đột ngột ngoái nhìn thì bắt gặp ánh mắt của anh ta, một ánh mắt sắc lạnh, không hề dại khờ.
Đó là một trái núi biệt lập, nhưng có vẻ phong quang chứ không rậm rạm như thường thấy, để sang đó người ta bắc một cây cầu treo bằng dây rừng và những thân gỗ tròn. Nó thật mong manh giữa đại ngàn. Nhìn ngắm hồi lâu tôi ngại ngần dừng bước.
-         Lần trước em cũng đếch dám qua – Tay dẫn đường có vẻ đã hiểu tôi đang nghĩ gì – Mãi sau, thấy họ qua rồi em mới liều sang.

Tôi líu ríu, vịn dây theo sau hắn, cây cầu bắt đầu rung rinh.
-         Hay là về thôi! – Tôi bảo hắn.

-         Sắp đến rồi, qua khỏi cầu là dễ đi thôi, trông bác thế kia mà cũng non gan phết…- Tay dẫn đường chả biết cố tình khích tôi hay thật lòng chế giễu.

Nghe thế, máu sỹ nổi lên, tôi ưỡn ngực nhấc chân đi tiếp, nhưng càng đi, cầu càng rung mạnh, đến đoạn giữa, chỗ trũng nhất thì nó đã lắc như có ai đưa võng. Mà có vẻ gió thổi mạnh hơn thì phải. Bỗng tay dẫn đường dừng lại mặt xanh tái nhìn tôi; - Em quên, mỗi lần chỉ được một người qua thôi!
Trời đất, tôi định kêu lên nhưng chẳng còn hồn vía đâu, chân tôi run lập cập, bên dưới, dòng suối nhỏ như một sợi dây màu trắng, lẫn trong đá nhấp nhô…
Hai chúng tôi lúc này chả còn giữ thể diện gì, cứ lom khom bò, trống ngực gõ liên hồi... Cuối cùng thì cũng sang đến nơi.
Khác với đầu kia, bên này khá bằng phẳng, phong cảnh rất hữu tình. Có những bãi cỏ xanh, thi thoảnh lại được tô điểm bằng vài cây sau sau trắng. Thấp thoáng hình như có đàn dê núi đang gặm cỏ.

Con đường mòn vắt ngang đỉnh núi, rất dễ đi, dù khá quanh co, thi thoảng lại có một phiến đá  ngang đường giống như bậc lên xuống. Từ đây nhìn ra xung quanh chỉ thấy nhưng đỉnh núi khác, thấp hơn hẳn, xa xa có lẽ là phố thị.
Rồi phía trước hiện ra một cánh rừng thưa, con đường mòn nhỏ dần lại, cỏ mọc rậm hơn, có vẻ rất ít người qua lại. Đi thêm chặng nữa thì tôi không tin vào mắt mình khi nhìn thấy cái gì giống như một mái nhà, nó ẩn hiện dưới tán lá cây và lẫn vào vách đá.

Đó một ngôi chùa cổ, rêu phong đã phủ kín, nhưng vì phần lớn ẩn vào hang núi nên còn khá nguyên vẹn, lá mục và cỏ dại đã lấp kín sân. Chúng tôi phải rẽ lối mà vào.
-         Hôm trước họ chỉ đưa em vào đến đây rồi về… mất mẹ mấy lít.

Mặt choắt vừa đưa tay vạch cỏ vừa làu bàu.

Từ đây có thể nhìn được khắp lượt đỉnh núi, cả cây cầu treo phía dưới cũng trong tầm mắt, người chọn nơi đây hẳn muốn bao quát cả vùng này.

 Ngồi nghỉ chốc lát rồi hai chúng tôi đi sâu vào trong, mạng nhện giăng khắp nơi, chỗ bệ thờ chẳng còn thứ gì, người ta đã lấy hết từ lâu. Càng vào sâu càng tối, tôi lục túi tìm đèn pin, tay đồng hành cũng đã bật đèn của hắn, à thì ra cũng chẳng vừa.
Mò mẫm một lát thì gặp một bậc đá, rồi cứ thế dẫn xuống dưới, ánh sáng yếu dần rồi tối hẳn, lâu lâu có một ngánh nhỏ chỉ vừa chỗ người lách vào, tôi đoán có thể là những ngách thoát hiểm, giống như hang chuột vậy. Không khí càng lúc trở nên ẩm ướt, thi thoảng có giọt nước rơi trúng cổ, lành lạnh.

( còn tiếp )


2- KẾT CỤC CỦA LÒNG THAM


Quanh co độ nửa giờ thì chúng tôi đến một khoảng đất bằng phẳng, nhưng trần rất thấp, nếu không chú ý tôi đã va đầu vào đá. Tôi lục ba lô lấy bộ đèn ác quy, lát sau  ánh sáng đã tràn ngập.
Đó là một khoảng  khá vuông vức, rộng độ vài mét vuông, giống như căn phòng nhỏ, bốn bên vách đá phẳng phiu, chắc hẳn người xưa đã rất kỳ công đục đẽo. Dưới nền vương vãi mẩu nến, đuốc tre, có vài đoạn lốp xe đạp đốt dở, chắc hẳn nhiều người đã vào đây, vì trên tường còn mấy dòng chữ viết bằng than ngệch ngoạc.

Tôi chậm rãi ngồi xuống châm thuốc hút, vì đã biết phải làm gì. Tay dẫn đường lúc này dường như hơi thất vọng, hắn ngó ngiêng vào những góc khuất rồi lắc đầu chép miệng:
-         Chắc là công cốc rồi bác nhẩy! Mẹ nó, biết thế này…

Tôi nhìn đồng hồ, mới hơn mười giờ, chắc là xong sớm thôi. Đoạn tôi quay sang hắn:
-         Nghỉ ngơi tý đã, đâu còn đó!
-         Bác bảo sao, còn gì đâu, bọn nó chẳng lấy sạch rồi…

Tôi cười nhẹ, đúng là có nghề vẫn hơn.
Người đưa đường miễn cưỡng ngồi xuống, chắc vì còn nể tôi – một tay săn tìm có hạng- nếu không chắc hẳn đã quay lên.
Theo thói quen tôi thò tay rút điện thoại.
-         Có sóng đếch đâu mà…- bạn đồng hành của tôi ngán ngẩm.

Tôi vốn định gọi về cho tay đồng nghiệp hỏi vài chuyện. Thế này thì, nếu có  gì xảy ra chắc chỉ có trời biết.
Tàn điếu thuốc, tôi bắt đầu làm việc, soi đèn thật gần bức tường đá, từng khoảnh nhỏ, tôi tìm một thứ, nhưng không thấy! Sang đến mảng thứ hai, rồi thứ ba cũng vậy, chỉ là tường đá. Tôi bắt đầu thất vọng, theo lệ, những biệt phòng thế này, đồ quý sẽ được giấu trong tường.
Còn mảng cuối cùng, tôi cẩn thận dò thật kỹ, từng chút một, à đây rồi, có một chỗ hơi sẫm màu.
-         Đem búa đây! Tôi quay sang mặt choắt lúc này đang đứng sát tôi, chăm chú nhìn.

Có một âm thanh quen thuộc vang lên, đúng như lý thuyết, đó là mảng tường rỗng.
-         Đập ra chứ bác? – Mặt choắt khá thông minh hỏi tôi.
-         Từ từ, chú lấy mấy cây nến với cục cồn khô ra đây.

Sau khi nến đã được thắp, cồn cũng đã đốt, tôi, theo đúng lệ chắp tay khấn thầm, vì tôi biết, tâm linh vẫn là một điều khó giải thích.
-         Nhưng sao phải đốt cồn hả bác?
-         Có gì đâu, cồn và nến sẽ khử khí độc, lát nữa khi tường vỡ, chú nhớ ngồi sát xuống nền. Hơi sẽ bay lên cao, phải vài phút mới tan hết.
Tay dẫn đường hơi biến sắc, những điều này nếu không phải trong nghề thì  chẳng thể biết, và tất nhiên sẽ phải bỏ mạng vì hơi độc người xưa đã đặt ở bên trong.

Chỉ vài nhát búa, một khoảng trống đã lộ ra, nó sâu hơn tôi nghĩ. Tôi bỗng thấy hối hận, nhưng quả thực từ đầu tôi cũng không cho rằng sẽ có gì ở đây, may chăng chỉ là vài món đồ xưa.
Bộ xương người được đặt ngồi chăm chăm nhìn chúng tôi. Tay đưa đường giật mình lui lại,  thấy tôi bật cười hắn mới dạn bước lên.

( chuyện thế nào, hồi sau sẽ rõ )

Có một hũ đầy vàng và ba chum bạc nén, ước chừng độ hơn hai chục cân cả thảy. Chúng tôi thu dọn xong thì đồng hồ đã chỉ ba giờ chiều.
Lúc này, tôi mới thấy lo. Để cho tay dẫn đường đi trước tôi theo  sau, vừa đi vừa nghĩ cách làm sao để an toàn. Càng lên cao tôi càng căng thẳng, mồ hôi rịn ra ướt đẫm cả áo. Mải suy tính tôi bước hụt, ngã xoài ra, tay dẫn đường giật mình quay lại.
-         Không sao đâu, trượt chân thôi.
 Ánh sáng lộ ra mỗi lúc một rõ.
Sau rồi chúng tôi cũng đã đến  đỉnh hang, cũng là nền chùa, tôi vừa châm thuốc vừa lấy giọng bình tĩnh bảo người cùng đi:
-         Thế này nhé, chú lấy chỗ vàng và hai hũ bạc đi, dù sao công của chú mới là chính, tôi chỉ xin chỗ còn lại, chả gì tôi cũng khá giả hơn chú…

Hắn ậm ừ nhìn lảng đi chỗ khác, tôi hiểu, vậy là không ổn. Nếu thẳng thắn mà nện nhau tôi cũng chẳng ngại chi, nhưng hắn mà bất ngờ xuống tay thì cũng khó mà lường được.
Đang hoang mang tôi bỗng nảy ra một ý, vừa đưa tay sờ soạng quanh người tôi vừa lẩm bẩm:
-         Chết mẹ, khéo rơi mất!
-         Cái gì thế bác? – Mặt choắt quay lại nhìn tôi.
-         Điện thoại, chắc rơi chỗ trượt chân. – Tôi vừa lẩm bẩm vừa đứng lên- Cái danh bạ…toàn chỗ thân quen…

Rồi tôi khoác balo quay lại lối xuống, được vài bậc tôi bước nhanh, đây rồi cái nghách nhỏ, tôi vội lách vào, không sâu lắm, nhưng thế là ổn.
Trong ánh sáng mờ mờ tôi nhận ra cái bóng của người đồng hành đã đến trước lối xuống, để cho hắn yên tâm tôi chiếu đèn hướng xuống dưới rồi lúc lắc tay làm như đang đi.
Không phải chờ lâu, tôi thấy một ánh chớp lóe lên rồi tiếng một vật lăn lộc cộc theo những bậc đá, tôi lui vội vào trong thu người lại.
Một tiếng nổ khô khốc vang lên, rồi âm vang theo vách đá. Lựu đạn.

( còn nữa )

Vì nghách khá sâu nên tôi chỉ bị chút chấn động, nhưng khói thì rất đậm đặc, phải rất cố gắng tôi mới không bật tiếng ho.
Hồi lâu, mọi thứ im ắng trở lại.
 Đợi thêm lúc nữa tôi mới bắt đầu mò mẫm đi lên, mà không dám bật đèn. Lát sau thì đến nền chùa. Vắng lặng.
Bạn đồng hành chắc đã đi xa. Tôi khoan khoái trèo lên một phiến đá phẳng, thấy lòng yên tĩnh lạ. Lúc này trời đã về chiều, vài tia nắng cuối ngày đang cố vắt nốt lên đầu núi, ở dưới thung sâu, sương mù đang đùn lên, mù mịt.
Tôi vừa châm thuốc vừa lơ đãng nhìn về phía cây cầu, ô kìa, mặt choắt hiện ra sau tảng đá, hắn đeo cái ba lô sau lưng cắm cúi đi, thi thoảng quay nhìn phía sau, khi thấy tôi hắn hơi dừng lại thoáng chút kinh ngạc rồi lại vội rảo bước, vừa đi vừa ngoái lại.
Thấy tôi không động tĩnh gì mặt choắt có vẻ yên tâm, đến đầu cầu hắn đứng lại giây lát rồi bước xuống, đi như chạy, chỉ một lát hắn đã gần đến giữa,cây cầu rung lên, mỗi lúc một mạnh, bỗng, tôi không tin vào mắt mình, một tiếng “phật” khá lớn vang lên, cây cầu đứt dây đúng lúc người bỏ chạy sắp đặt chân lên bờ bên kia. Tiếng hét khủng khiếp vang động cả núi rừng khiến tôi không khỏi sởn tóc gáy.
Nhưng, tôi còn kinh ngạc hơn nữa và buộc phải đứng dậy dụi mắt vì không tin vào những gì đang diễn ra, ngay đầu cầu bên kia, chỗ dây vừa đứt, sau mấy tảng đá, có bốn năm bóng người lấp ló chui ra, tên nào cũng lăm lăm dao kiếm trên tay. Họ đã đợi ở đó tự bao giờ.

3 – NHỮNG NGÀY SINH TỬ

Phải mất mươi phút sau tôi mới hoàn hồn. Bên kia cầu, bọn người khi nãy đã đi khuất, có vẻ chúng chưa thấy tôi. Nhưng dù có thấy thì giờ đây chỉ có mọc cánh may ra mới gặp được nhau.
Lúc này, khi ánh chiều đang tắt dần tôi mới thấy lo cho mình.

Đêm xuống, trời mỗi lúc một lạnh, tôi ngồi bên đống lửa mà lòng rối như tấm lưới, làm sao mà về được đây ! Chợt một cơn gió lạnh thổi tới, rồi trời lấm tấm mưa, cũng may còn có mái chùa.
Đang vẩn vơ ngẫm nghĩ bỗng tôi thấy hình như có cái gì thấp thoáng ngoài hiên, hình như… là một bóng người. Tôi bắt đầu run, tay nắm chặt con dao tôi khẽ đứng lên, một lát sau khi mắt đã quen với bóng tối thì…

( còn nữa )


Ngay dưới hiên chùa, cạnh cây cột cái, một bóng người đứng đó. Trong ánh sáng yếu ớt, nhập nhoạng của đống lửa khiến bóng đen lúc ẩn lúc hiện càng làm tôi thêm phần kinh hãi.
Nhớ khi còn nhỏ bà nội thường bảo, ma quỷ vốn cũng là người chết biến thành, mình cứ thật lòng thì họ cũng chẳng chấp đâu, nghĩ vậy nên tôi lấy hết can đảm lẩm bẩm trong mồm:

-         Thưa thần tiên, con vô tình mạo phạm, nay bị lạc ở đây, tuyệt không có ý gì xấu, mong thần tiên tha cho…

Bỗng cái bóng sụp xuống lạy như tế sao:

-         Bác…bác tha cho em, là em đây…

Tôi kinh hãi, lui lại: - Trời, thì ra là mặt choắt, hồn ma của nó còn về đây làm gì, tôi có lỗi nào đâu, tự nó đấy chứ. Nghĩ vậy tôi bèn bảo:
-         Thôi, chú sống khôn chết thiêng, đời là vậy ai mà biết trước, ra khỏi đây rồi tôi sẽ mời thầy cầu siêu cho chú…
-         Bác…bác tha cho em…em đây .- Bống đen lại kêu lên thống thiết, rồi đổ vật xuống thành một đống bùng nhùng.

Mồ hôi vã ra, tim đập như trống hội, rồi tôi cứ ngây ra mà nhìn, trong khi tay chân đã bủn rủn hết.
Mãi lâu sau, đống đen ấy vẫn nằm đó. Hình như không phải ma. Tôi chất thêm củi, khêu cho lửa to lên, rồi cầm một khúc cây đang cháy dở từ từ lại gần. Ô, thằng mặt choắt, người nó bê bết máu, quần áo rách bươm, có vẻ đã yếu lắm.
Sau vài hụm nước, nó mở mắt ra được một lát rồi thiếp đi.
Tôi nhìn nó mà lòng càng thêm rối, nó đấy, cái kẻ đã giết hụt tôi trong hang tối đấy, là kẻ vì của cải mà biến thành quỷ đây. Làm sao bây giờ?
Đêm mỗi lúc một khuya, có tiếng chim rừng thảng thốt ở đâu vọng về nghe khắc khoải như ai có nỗi oan gì chưa giải được. Tôi cứ ngồi đó ngẫm nghĩ về sự đời, về con người, mọi thứ hóa ra thật mong manh, ở nơi xa kia chốn ồn ào phố thị, có những toan tính nào đang hình thành, có những âm mưu nào sắp hoàn tất…Để rồi hóa ra, tất cả, tất cả sẽ chỉ là hư vô…
Sau mệt quá, tôi thiếp đi lúc nào không biết.

( còn tiếp )
  Tôi bị đánh thức bởi tiếng chim hót, bên cạnh lửa vẫn cháy đều, mặt choắt đã dậy từ khi nào, có vẻ hắn không bị nặng lắm. Thấy tôi ngồi dậy hắn ấp úng:
-         Anh…
-         Ừ,- tôi đáp hơi gượng ép – có bị nặng không?
-         Dạ chắc không sao, chỉ hơi đau đầu…

Lúc này tôi mới nhìn kỹ kẻ chạy trốn, có một vết rách trên đỉnh đầu, nhưng không sâu lắm, có lẽ là máu chảy xuống tóc, rồi thấm xuống áo quần đâm ra trông có vẻ ghê, cộng thêm bộ đồ đã rách bươm hết nên càng thê thảm.

-         Lúc cầu đứt em vẫn bám được dây chão, sau bị đập mạnh vào vách đá thì chẳng còn biết gì nữa, mãi đêm, em mới tỉnh lại thì thấy mình nằm trên một chạc cây. Đầu cầu đứt vẫn lủng lẳng phía trên, thế là em leo lên.
Mặt choắt vừa khêu lửa vừa chậm rãi kể, thi thoảng lại len lén nhìn sang tôi. Im lặng hồi lâu tôi bảo hắn:
-         Thôi, bây giờ tao với mày cũng cùng đường rồi, biết khôn thì dựa vào nhau mà tìm lối về.

Hắn vâng dạ.

Sau khi chén nốt chỗ lương khô mang theo tôi và kẻ đồng hành đi tìm lối thoát. Chỉ toàn là vực đá trơn nhẵn hoặc lởm khởm tai mèo, tuyệt không có một chỗ nào khả dĩ cho việc leo xuống.
Đến trưa tôi chán nản quay lại chùa.
Bụng bắt đầu sôi, nhưng cơn khát mới khiến chúng tôi khổ sở, đã xuất hiện cảm giác quay cuồng vì mất nước. Tôi chợt nhớ trong cuốn sách dạy người ta sinh tồn khi lạc rừng có đoạn nói rằng có thể lấy nước uống từ thân cây chuối. Tôi bèn chặt một đoạn ống mai nhỏ rồi vòng ra sau chùa nơi có một bụi  khá sum suê, vạt nhọn một đầu ống tôi cắm mạnh vào thân một cây to nhất, lát sau dòng nước bắt đầu chảy ra, không nhiều lắm nhưng cũng đủ cho bọn tôi tỉnh táo hơn.
-         Hơi chát anh nhỉ? – Mặt choắt phàn nàn.- Mà sao anh biết cách này?

-         À, tao đọc sách, mà mày thử tìm xem liệu có gì ăn không? Không có gì vào bụng, xuống sức nhanh lắm đấy.

Mặt choắt đăm chiêu giây lát, nhưng có vẻ tay này chỉ giỏi những trò ma mãnh, còn sự thông minh thì chưa đạt đến.
-         Hình như hôm qua tao thấy có dê ăn cỏ quanh đây, sao giờ đâu hết nhỉ?- Tôi gợi ý.
-         Ôi dào, dê nhà đấy, người ta chả đuổi về từ chiều  rồi…- Mặt choắt buồn rầu.
-         Thế mà tao cứ tưởng…

Nắng mùa này không quá gay gắt, nhưng đủ ấm để các loài bò sát sau một đêm lạnh thường bò ra tìm thức ăn, biết đâu chúng tôi chẳng kiếm được được một vài con vật gì đó. Nghĩ vậy tôi rủ mặt choắt đi tìm trên những phiến đá. Chẳng phải mất công mấy, sau hơn một giờ săn bắt chúng tôi đã có một bữa trưa với thằn lằn nướng, tuy chưa thể no bụng nhưng tôi quyết định dành lại ba con cho buổi chiều.

Đang lơ mơ nằm nghỉ bỗng mặt choắt kêu lên:
-         Anh ơi, nhìn kìa…có…có người…

Theo tay hắn chỉ, tôi thấy có vài người dân bản địa đang ngó ngiêng phía bên kia núi, biết là chẳng giải quyết gì nhưng tôi cũng lóc cóc theo hắn đi ra chỗ cây cầy. Phải nói thật to thì hai bên mới nghe được nhau.
-         Có ổn kh.. ô..ô…ng…? – Một người bắc loa tay gọi sang.

Ổn cái..cứt..tôi lầm bầm. Còn mặt choắt thì rướn cổ hét sang:
-         Cứu v…ơ…i…ới…

Bên kia, nghe xong ngán ngẩm lắc đầu. Rồi cứ nhìn nhau mà chỉ chỏ như vậy khá lâu, mãi rồi họ cũng vẫy tay chào rồi lần lượt quay lưng, chẳng mấy chốc đã khuất vào cỏ lác. Cảm giác bị bỏ rơi bắt đầu xâm chiếm, kẻ đồng hành tham lam của tôi thẫn thờ ngồi trên một hòn đá mắt dõi theo mấy bóng người đang mờ hẳn bên kia vực thẳm.

-         Em quê Bắc Ninh, lên đây làm cửu vạn rồi quen nó, thấy bảo nhà đâu tận Thanh Hóa, em cũng chả hỏi, rồi về ở với nhau.

Đêm hôm ấy, có vẻ đã hết ngượng, tay mặt choắt tâm sự với tôi về gia cảnh, nghe ra cũng là người chăm chỉ, hai vợ chồng đã mua được nhà đàng hoàng.
-         Anh em mình mà chết ở đây thì…

Hắn bỏ lửng câu nói nhìn sang tôi, có vẻ biết mình lỡ lời. Tôi càng ngán ngẩm, nhưng cũng cố lấy giọng cứng mà trả lời hắn:
-         Tao với mày còn cao số, chưa chết được đâu…Thôi ngủ đi lấy sức mai còn đi bắt thằn lằn.
   Sáng hôm sau tôi dậy sớm, quang cảnh núi rừng buổi sớm mai thật là thanh khiết, giá như đây chỉ là một chuyến dã ngoại thì hay biết mấy.
Lại một vòng nữa quanh đỉnh núi, lần này hai kẻ bất hạnh săm soi từng khe đá, gốc cây với hy vọng tìm ra một lối đi, nhưng có vẻ ông trời đã quyết định cho chúng tôi ở đây làm thần núi.
Một đêm nữa qua đi, lương thực có vẻ cạn, cả ngày hôm qua chúng tôi chỉ tìm được một chú thằn lằn, chắc là do nạn săn bắt diễn ra gay gắt quá nên chúng đã bỏ đi, nguy cơ thiếu đói đang tăng lên, tinh thần thì xuống dần. Sau mấy hôm không tắm rửa, quần áo lại rách mướp, thằng mặt choắt trông chả khác chi con bù nhìn. Cứ lâu lâu nó lại thở dài.
- Biết thế này em thà ở nhà, ngày kiếm vài chục, nghèo mà vui.

Tôi cười khẩy:
- Muộn rồi, việc bây giờ là nghĩ xem có cách nào xuống được núi, cứ ngồi đó mà than thở không giải quyết gì đâu!
Mặt choắt nghe tôi nói càng tiu ngỉu, chợt nó quay sang:
-         À, mà sao bác vẫn …vẫn… sống…? –
Hình như đến nước này, chả còn gì để mất, nên nó mới hỏi vậy, mà cái thằng lúc bác, lúc anh, à phải rồi khi nào khách sáo thì nó gọi bác, lúc thành thực nó lại kêu anh.

Nghe nó hỏi tôi bỗng thoáng giật mình, những cái ngách nhỏ, chắc nó phải dẫn đi đâu chứ.  Nghĩ vậy tôi đứng lên bảo nó:
-         Theo tao!

Thằng mặt choắt ngây ra chả hiểu gì, nhưng rồi cũng lóp ngóp theo tôi xuống hang. May quá, pin vẫn còn kha khá. Ở ngách đầu tiên chúng tôi đi khoảng hơn chục mét thì hết đường, mấy cái sau cũng vậy, chỉ còn một ngách cuối cùng. Lúc này pin đã yếu lắm, chỉ còn mờ mờ ảo ảo. Cái ngách này sâu hơn hẳn, có lẽ phải gấp mấy lần, nhưng rồi cuối cùng bọn tôi cũng chạm vách đá.

Vừa mệt, vừa thất vọng, tôi ngồi phệt xuống nền hang. Đúng khi ấy đèn tắt ngấm. Hai chúng tôi chả ai buồn nói gì, cứ thế ngồi im trong bóng tối, tôi chẳng còn biết phải làm gì thêm, còn mặt choắt, nó đã hết hy vọng.
-         Này, - sau cùng tôi bảo hắn- dù sao thì tao với mày chết còn có đồng đội, mà… không biết sau này có nhà ngoại cảm nào tìm được xương anh em mình không nhỉ.

Nó im lặng, chắc chẳng còn đầu óc nào mà bỡn cợt nữa rồi.
Lát sau khi đã hồi sức tôi lại bảo:
-         Thôi lên đi, chết ở trên cho nó thoáng.

Rồi tôi uể oải đứng dậy. Bỗng thằng mặt choắt kêu lên thảng thốt: - Anh ơi, hình như…có…có…
-         Có cái gì! – Tôi cũng chột dạ

Mặt choắt đi qua cạnh tôi rồi tôi nghe thấy tiếng nó đạp chân huỳnh huỵch, ô kìa một tia sáng nhỏ xíu lọt vào.
Chúng tôi ra sức đẩy, cuối cùng thì phiến đá cũng rơi xuống, ánh sáng ùa vào, một cảnh tượng kỳ vĩ hiện ra, trước măt chúng tôi là cây cối rậm rạm của dãy núi đối diện, đã nghe tiếng nước suối chảy phía dưới, nếu so với bên kia thì chúng tôi đang ở lưng chừng núi.
-         Hú…hú…- Hai kẻ bất hạnh cùng rú lên man dại.

Nhưng, sau phút vui mừng thì bọn tôi cùng nhận ra một sự thật, từ đây xuống đó cũng một vực đá trơn nhẵn. Người thường không thể đi được. Chỗ gần nhất có thể đặt chân cũng phải tương đương bốn năm tầng nhà, ấy là tôi ước lượng vậy, có khi còn hơn.
Dù thế, nhưng sau thắng lợi này, bọn tôi phấn chấn hẳn, tôi bàn cứ lên đỉnh kiếm cái gì ăn đã, thế này thì trời chưa tuyệt đường đâu.

Có lẽ do dư âm của việc tìm ra lối thoát nên hai chúng tôi trở nên rôm rả hơn, chả mấy chốc đã lên đến sân chùa. Rồi may mắn làm sao buổi trưa hôm đó mặt choắt kiếm được một con rắn khá lớn, chúng tôi ngồi nướng ăn mà lòng vui lạ.
Đang ăn thì hắn bỗng dừng nhai rồi huých vào tay tôi, theo hướng mắt nhìn, tôi thấy ở bên kia núi chỗ cây cầu đứt có mấy bóng người. Tôi nghĩ bụng; có giải quyết gì đâu! Sau rồi cũng bảo hắn ra xem sao.

Hồi lâu, hắn trở về có vẻ ưu tư.
-         Hình như không phải dân miền rừng anh ạ! Xem ra họ muốn sang đây, nhưng có vẻ không phải để cứu mình, vì thấy em mà họ không buồn hỏi han gì, em cũng đếch cần…nên không nói gì.
-         Nhưng cứu thế nào? – Tôi vừa gỡ xương vừa góp chuyện.- Hỏi để làm gì? Mà là ai thế nhỉ? Có thể dân ở bên đó đã báo ra ngoài, nhưng để tổ chức một đội tìm kiếm thì không phải ngày một, ngày hai, mà có ai thèm cứu anh em mình làm gì.
Mặt choắt nhìn xa xăm:
-         Không tìm mình, nhưng chỗ vàng bạc…
-         Ừ nhỉ, - Tôi ngẩn người - nhưng còn gì mà tìm, hay mày vẫn giấu ở đâu – Tôi đùa.

-         Ôi giời, em không tan xác là may rồi, bác cứ trêu em! – Mặt choắt ngượng nghịu.

-         Thôi nghiêm túc nhé – Tôi nói – Dù bọn kia là ai, muốn gì, thì tao với mày cũng cứ phải thoát ra cái đã.

Nói thế, nhưng tôi cũng chưa biết sẽ làm sao, gặm xong mấy khúc thịt rắn, tôi khoan khoái ngả lưng bên đống lửa, chẳng mấy chốc đã thiếp đi.
Khi tôi thức giấc thì trời đã ngả về chiều, nhìn quanh không thấy bạn đồng hành đâu, tôi hơi băn khoăn, thằng này đi đâu nhỉ? Tôi hơi lo lắng sờ tay vào thắt lưng tìm con dao, nó đã biến mất. Lại giở trò gì đây?
Ngao ngán tôi đứng lên nhìn xung quanh, rồi dõi mắt ra xa, ồ thằng mặt choắt đang lúi húi chỗ đầu cầu treo, nó làm gì thế nhỉ. Bên kia chẳng còn ai. Tôi lững thững đi xuống, thấy tôi nó cười cười:
-         Bác ngủ ngon quá em không dám gọi, thoát rồi bác ạ!

Thấy mặt tôi vẫn đầy vẻ ngu si nó chỉ tay vào đoạn dây cáp dùng để treo cầu đã được lôi lên mặt đất một đoạn khá dài:
-         Đây, em cắt lấy một bên dây treo, chắc đủ để anh em mình đu xuống!

A, thằng này, thế mà được! Tôi reo lên trong bụng.

- Đấy tao đã bảo rồi, trời vẫn còn thương anh em mình! – Tôi cố lên giọng, để át đi sự thua kém của mình.
Đến tối thì bọn tôi cắt xong đoạn dây. Nó thành một đống lù lù trên đất, đó là một loại dây rừng khổng lồ, rất dai, tôi đoán người ta sẽ phải thay dây định kỳ, vì qua thời gian nó sẽ lão hóa. Sợi dây này chắc cũng sắp đến ngày.
Đêm đó dù không ăn gì nhưng bọn tôi không thấy đói, có lẽ vì món rắn nướng có nhiều chất, cộng với niềm vui sắp được tự do đã át đi tất cả, hai thằng cứ hàn huyên đủ chuyện, mong trời chóng sáng.

Hôm sau, mới mờ đất, chúng tôi đã lục cục thu dọn đồ đạc, nói thu dọn cho oai chứ có gì đâu, tôi đi trước cầm bó cỏ khô được bện chặt dùng làm đuốc, thằng nọ vác cuộn dây bước theo sau, tôi định bụng xuống được chân núi rồi sẽ kiếm đồ ăn, dưới đó hẳn là sẽ sẵn hơn.
Loay hoay một hồi, sau cũng cố định được một đầu vào cái gờ đá khá lớn, thằng mặt choắt nhìn tôi rồi đẩy cái đống dây ra khoảng không:
-         Vừa đủ anh ạ, - nó ngó xuống dưới rồi nhìn tôi - chắc cách mặt đất cũng không xa mấy! Thế, em xuống trước nhé.
Tôi gật đầu.
Tuy có thể nói rằng đây là một kết quả không thể tốt hơn, nhưng việc đu vào sợi dây rừng để tụt xuống một khoảng cách cao như vậy tôi chưa từng làm, thi thoảng có thấy trên tivi nhưng đó là những người lính biệt kích dạn dày chinh chiến, chứ đâu phải tôi.
Người đồng hành đã bắt đầu leo xuống, có lẽ vụ trèo lên hôm trước khiến nó khá thành thạo. Tôi nhìn theo mà không khỏi lo âu.
Được vài phút bỗng nó dừng lại quắp chặt sợi dây, chăm chú hồi lâu rồi nó ngẩng lên nhìn tôi nói phều phào:
-         Có…có con gấu.

-         Đâu, đâu? – Tôi vừa hỏi vừa dớn dác nhìn quanh. Ồ, dưới một bụi cỏ khô cách đầu dây chừng vài mét một chú gấu nâu đang đứng bằng hai chân nhìn lên, vì màu lông khá giống với đám cỏ khô nên chúng tôi không để ý.

-         Cứ bình tĩnh! - tôi kêu lên động viên hắn - Rồi nhìn quanh, sau tôi tìm được mấy viên đá khá lớn. Cẩn trọng, tôi vừa ném xuống, vừa quát lên thật to. Con gấu hơi giật mình, nhưng có vẻ mấy viên đá ấy chẳng nhằm nhò gì. Nó hộc lên mấy tiếng đầy đe dọa rồi vừa chạy vòng quanh một gốc gần đó, vừa cào đất đầy thách thức.

-         Em mỏi tay lắm rồi bác ơi! – Thằng người đang lủng lẳng giữa trời chốc chốc lại gọi với lên.

-         Hay là mày cứ liều xuống đánh nhau với nó – Tôi cố đùa cho đỡ căng thẳng.

-         Bác xem có cách nào…khéo em rơi mất!

Con gấu chỉ bỏ đi sau khi tôi ném bó đuốc xuống đám cỏ khô, tiếng lửa cháy lép bép rồi khói bốc lên mù mịt khiến nó hoảng sợ lùi dần rồi quay đầu chạy.
-         Nó đi xa chưa anh?
-         Xa rồi, xuống đi!

Vừa chạm đất, thằng nọ vội chạy lại chỗ đám cháy nhặt ngay một cành củi. Tôi bật cười, có đám lửa ấy còn con gì dám đến nữa.
Ném cái balo xuống trước, tôi bắt đầu bám vào sợi dây, dễ hơn tôi nghĩ, vì thân của nó khá sần sùi chỗ to chỗ nhỏ,rất bám tay. Chốc lát tôi đã đứng trên mặt đất.
Hai thằng nhìn lên miệng hang với nhiều cảm xúc.

Giờ đây, xung quanh chúng tôi là rừng rậm.

Lúc này tôi mới thấy đói, chắc cũng khoảng gần trưa, hôm nay trời âm u.
Sau hơn một giờ đồng hồ đi dưới đại ngàn thì chúng tôi đến bên bờ suối, nó rộng hơn so với tôi mường tượng khi nhìn từ trên cao, nước trong mát. Tôi đưa dao cho mặt choắt bảo nó tìm mấy con jun, còn tôi chuẩn bị dây câu.
Chỉ lát sau, mùi cá mương nướng đã thơm dậy cả một góc rừng, tôi tiếc là không đem theo muối, còn thằng kia lại nhắc đến rượu, thà đừng nói còn hơn, vì nỗi nhớ cái thứ ấy chẳng mấy chốc lại cồn lên.
No nê đâu đó hai thằng bắt đầu bàn chuyện về nhà.
Tôi bảo, cứ đi xuôi theo dòng chảy, chắc chắn sẽ ra khỏi rừng, mặt choắt đồng ý ngay, nó nói, kiểu gì bác cũng hơn em.

Dòng suối quanh co dưới chân những trái núi, giá mà cứ chạy thẳng thì có lẽ cũng chẳng mấy xa xôi, mãi đến xế chiều, chúng tôi cũng chưa đi được bao xa, vì đường đi khá gập gềnh, mà dưới những tán cổ thụ, trời tối  nhanh hơn thì phải. Vừa trèo hết con đèo nhỏ tôi bỗng giật mình khi ở phía dưới cách bọn tôi không xa có một cột khói bốc lên, có người. Người đồng hành của tôi mừng quá, nó bắc tay làm loa định hú lên nhưng tôi ngăn lại.
-         Cứ bình tĩnh, xem thế nào đã, giữa rừng hoang thế này…

Nó nhìn tôi gật gật đầu.
Vừa đi tôi vừa cân nhắc, liệu có thể là ai, một người thợ săn, một người bản địa…hay chỉ đơn giản là bác tiều phu. Dù là ai thì chúng tôi cũng sắp gặp được con người để mà hỏi thăm, đã năm ngày chúng tôi lạc rừng.
Khi chỉ còn cách cột khói mấy gềnh đá thì mặt choắt chợt dừng lại, nó kéo tôi ngồi xuống thì thào:
-         Bọn nó…
-         Bọn nào?- Tôi hỏi.
-         Bọn hôm qua ở bên kia núi đấy! Em vẫn nhớ cái thằng to béo chỉ gườm gườm nhìn em mà không nói năng gì.
-         Thế thì…- Liệu có phải chúng nó…

Mặt choát gật gù:
-         Khéo thế thật.

Tôi bàn với nó là sẽ theo dõi đám người kia, trời cũng sắp tối, chắc là họ chuẩn bị nghỉ lại. Đợi đêm xuống chúng tôi sẽ tìm cách tiếp cận.
Bọn người lạ mặt có bốn nhân mạng, nhìn lối ăn mặc không khó để đoán chúng là dân thành thị.
Ngồi trong một ngách đá được che kín bởi đám lá khoai mon tôi băn khoăn không hiểu chúng là ai,đang đi đâu. Chợt mặt choắt thì thào:
-         Bọn nó có súng anh ạ!

Tôi nhìn xuống, một tên đang nâng cây súng dài ngắm bắn gì đó, rồi lại hạ xuống. Việc này khiến tôi hơi lo, hẳn đây không phải người lương thiện gì.

Đợi cho trời tối hẳn bọn tôi men theo những bờ đá bên con suối tiến dần đến khu lều trại của đám lạ mặt, đêm tối quá, đường lại khó đi, cả thêm phần hồi hộp nữa khiến chúng tôi hơi căng thẳng. Khi chỉ còn cách bếp lửa độ chục mét thì thằng mặt choắt trượt chân rơi đánh ùm xuống suối, bọn người đang ăn uống dáo dác cả lên.
-         Cái gì đấy?
-         Hay là hổ!
-         Chắc con gì thôi, hổ thì phải có mùi khăn khẳn, chua chua…
     -    …

Một thắng cầm cây súng đứng lên:
-         Để tao…- Rồi nó bước lên vài bước, nhưng cũng không dám đi xa, nó hướng mũi súng về phía tôi. Chẳng kịp làm gì, tôi nằm bẹp xuống nền đá. Sau tiếng nổ là những tiếng rào rào của đạn ghém va vào đá. Bắn xong, thằng nọ quay lại đống lửa, cười:
-         Khéo sáng mai có thịt thú nhắm rượu!

Lâu sau, mặt choắt khẽ bò đến bên tôi thì thầm: - Bác có sao không?
-         Không, nó bắn hú họa ấy mà, mình bò thêm đoạn nữa, nghe chuyện ở đây câu được câu chăng…

Bọn nọ đã bắt đầu ngấm rượu, chúng nói oang oang, thì giữa rừng sâu có ai nghe.
Hóa ra, bọn chúng đi tìm vàng thật, có một nguồn tin nào đó cho chúng biết về số của cải chôn giấu trong chùa.
-         Tao đánh dấu rồi, cứ đi dọc suối, đến đó sẽ tìm cách leo lên.- Một tên vừa tu chai nước vừa nhai nhồm nhoàm nói.
-         Không biết cái thằng bị nhốt ở bên kia lấy gì ăn nhỉ?
-         Nó có hai thằng chứ? – Tiếng một tên khác.
-         Tao chỉ thấy một, mà bọn Mán cũng bảo chỉ có một thằng về thôi, nhưng rơi, chết rồi…
-         Thôi kệ bố nhà nó, mà còn thằng nào thì mình cũng thịt nốt…nào uống đi.
-        

Nge ngóng hồi lâu, biết rõ tung tích, tôi bấm người đồng hành quay lại ngách đá, lần này chúng tôi đi cẩn thận hơn, nhưng nghĩ lại kể cũng bằng thừa, bọn nọ đã say cả rồi, còn đâu tỉnh táo.
Sáng hôm sau, mãi lúc mặt trời lên cao, bọn người nọ mới lục tục dậy thu dọn lều trại, báo hại chúng tôi cứ phải núp trong đám khoai rừng không dám manh động. Đợi chúng đi khuất một lúc lâu chúng tôi mới rẽ lá chui ra, nhưng tôi chợt giật mình, dưới khu lều trại vẫn còn vương vài sợi khói không hiểu ở đâu chui ra hai người đàn ông cũng lăm lăm súng kíp.

Tôi kéo thằng đồng hành vào, chúng tôi nhìn mà toàn thấy dâu hỏi trong mắt nhau, mãi sau thằng nọ chợt à lên:
-         Em nhớ rồi, hai bố con thằng chủ nhà mà mình ngủ lại ấy, nhưng thằng con bị điên cơ mà, sao nó lại…

Tôi cũng đã ngờ ngợ, nhưng vì khoảng cách hơi xa nên chưa nhận ra, nhưng cái ánh mắt của anh con trai hôm trước tôi vẫn nhớ, và chắc rằng đó không phải là ánh mắt của người điên.
-         Tao hiểu rồi. Hai vị này biết có vàng giấu trong núi, cũng đã cố tìm nhưng không thấy, bèn tung tin ra ngoài để mượn tay người khác làm giúp, sau đó sẽ hưởng trọn…Hôm nọ, mày mà qua được cầu thì xong rồi con ạ.
-         Thế à? - Mặt choắt mở to mắt nhìn tôi.
-         Tao đã thấy bọn này rình sẵn bên kia cầu…số mày còn cao lắm.

Vừa trao đổi bọn tôi vừa dõi theo hai kẻ nham hiểm dưới kia, có lẽ chúng cũng đã ở đây đêm qua. Thật hú vía.

Rồi sau chúng cũng đi khuất.
Tôi vừa đi vừa nghĩ rất lung, chỉ vài ngày thôi mà có bao nhiêu chuyện xảy ra, ai cũng cố giấu đi con người thật của mình, ai cũng nói đến điều tốt đẹp, cái tử tế, nhưng khi có tác động của vật chất, chúng sẽ bị phơi bày, thế mới hay, con người thực sự chỉ là một giống quá tầm thường. Có khi còn không bằng loài chó, vốn hay bị đem ra làm ví dụ cho sự xấu xa. Nhầm, hóa ra là nhầm hết…
-         Bác nghĩ gì mà đăm chiêu thế, từ nãy giờ chả thèm nói gì, em phát hãi…

Tôi ngắt dòng suy tưởng nhìn sang, nó rách rưới, mệt nhọc, nhưng cũng không giấu được vẻ hào hứng bởi sắp được về nhà, nó đấy ư, là con người đấy sao? Chỉ nay mai thôi, nó lại là một anh thu mua đồng nát lương thiện, hy vọng, con quỷ nằm ẩn trong nó chắc sẽ không có dịp chui ra nữa. Ôi, cuộc đời.

4- LẠI SẮP RA ĐI

Tôi ngồi một mình trong cà phê Bên Sông, giờ này thật vắng, trang báo mạng chuyên đưa tin giật gân có một bài khiến tôi chú ý; Tìm thấy nhiều hài cốt trong rừng sâu, nhà báo cũng chỉ nghe nói là do nhóm người đi lạc trong rừng lâu ngày nên bỏ mạng, điều đặc biệt là những bộ xương này được xác định là đã chết từ khá lâu, chỉ bị phát hiện bởi những người khai thác gỗ.

- Bác đợi em lâu chưa?

Tôi xem đồng hồ, thằng mặt choắt chỉ sai có ba phút, hôm qua, nó hẹn tôi ra đây bảo có chuyện quan trọng. Nhìn cái mặt nó tôi đã không mấy tin…
                                                                                             

                                                                                   Hết