LÃNG ĐÃNG MẤY THÚ CHƠI
Đời người ta
ngắn lắm thay, vẫn biết cái nợ hồng trần chẳng buông tha ai, nhưng nếu có một
thú chơi cho riêng mình, để sau những lúc gồng lên mà chống trả với lợi, danh,
ta lại có những khoảng êm đềm, chỉ riêng ta thôi, trần trụi.
CÂU
Anh bạn tôi
vốn rất mê câu, nếu gặp người cùng sở thích anh có thể nói hàng giờ về chuyện ấy,
từ cách làm sao có được một chiếc cần trúc dân dã, đến việc mua ở đâu, hãng nào
để có được một dụng cụ câu vừa ý. Anh cũng hay kể về thời thơ ấu, với những mùa
câu cháy nắng dọc sông Kỳ Cùng, sản phẩm mà anh mang về rất phong phú nhưng nhiều
hơn cả là giống trạch trấu, một loài cá
da trơn nước ngọt sống trong những sông suối có nhiều hang đá.
Trạch chấu
kiếm mồi ở tầng đáy, là giống phàm ăn, thả mồi xong hễ thấy đầu cần rung nhẹ rồi
sợi cước bị kéo đi một vệt dài là chắc chắn có ăn. Không gì hồi hộp bằng việc
kéo từ dưới nước một chú cá đen trũi dài cỡ gang tay, loằng ngoằng quẫy. Gặp
đàn, có khi chỉ ngồi một chỗ cỡ đôi tiếng là có ngay đĩa cá sông thơm nức mũi.
Trạch chấu dễ làm, nhiều thịt, ít xương, thơm ngon hiếm thấy. Xưa – gọi thế cho
xưa – chứ cũng chỉ cách nay độ 3-4 chục năm thôi ,việc kiếm được những chú trạch
trấu cỡ dăm, bảy lạng không phải là hiếm, nay thì tuyệt tích rồi.
Một loài nữa
cũng hay xuất hiện trong câu chuyện của anh, ấy là, giữa trưa Hè đứng trên cao
nhìn xuống khúc sông vắng, thấy có những tăm bọt sủi lên thì kiểu gì cũng có mặt
chúng ở đó. Nếu trên bờ lại có đôi doi cát lẫn trong đám cây bụi thì chẳng còn
nghi ngờ gì, đó là nơi ba ba lên đẻ trứng vào mùa sinh sản.- Xưa nhà nghèo, mỗi
lần câu được nào có dám ăn, lại lóc cóc
đem lên đầu xóm nơi có ngôi nhà gạch rộng của lão Bạch buôn ngựa, đổi lấy mấy đồng
đong gạo! – Anh ngậm ngùi kể - lão ấy giàu vì có đường dây ngựa từ Tây Bắc về,
ngựa thồ, ngựa kéo, lại cả ngựa trắng dùng nấu cao nữa. Mỗi năm vài chuyến, lão trở nên giàu nhất tổng. Mãi sau này mới
hay ngựa ấy chỉ để che mắt thôi, hàng của
lão là những bao, lồ cơm đen được ngụy trang khéo nằm trên lưng ngựa ấy.
Nói về câu
tôi lại nhớ chuyện ông Lã Vọng đời xưa ở bên Tàu, ngồi trên bờ sông Vị chờ bậc
minh quân với chiếc cần câu lưỡi thẳng, có người thấy lạ tò mò hỏi hỏi, ông cười;
lưỡi cong chỉ để câu loài thủy sinh còn ta chờ câu những Hầu, những Bá cơ!
NHẠC
Âm nhạc quả
là một thứ có ma lực mãnh liệt, chẳng có ai mà không có những lúc cao hứng nghêu
ngao đôi câu hát. Tất nhiên, giống như đời, nhạc cũng có nhiều thể loại, cũng
chừng ấy những nhóm người yêu nhạc khác nhau, gọi là gu. Nhưng nói đến gu thì lại
phải nhắc chữ sành. Dân sành nhạc, là một cụm từ khó cắt nghĩa, chỉ biết rằng
đã được xếp vào trong nhóm này thì hẳn không phải là những kẻ hời hợt, nông cạn.
Bàn về nhạc, tôi nhớ ngay đến chiếc băng catxet, vốn rất thịnh
hành một thời, tất nhiên là có nhiều kỷ
niệm. Một trong số ấy là những buổi tối, gần như cả xóm lao động nghèo sau một
ngày vất vả lại tập trung ở nhà ông giáo
Vĩnh, nghe cải lương từ cái máy Shap ba con bảy chạy awcsquy mà cứ mỗi phiên
ông lại đèo xuống chợ huyện nạp đầy. Chỉ
để phục vụ bà con thưởng thức những Lan và Điệp, Tướng cướp Bạch Hải Đường...
Xa hơn nữa,
khi lui về dĩ vãng phải kể đến những chiếc máy hát – hồi đó người ta gọi như thế – sử dụng đĩa nhựa
to như vành mũ, mà có dạo dùng để lót lồng
chim. Thôi! Những Bach (Johann Sebastian Bach) , Môda, Bét Thô Ven ( Ludwig van Beethove)
đâu có ngờ đâu rằng rồi có một ngày những tuyệt phẩm của mình sẽ được sống cùng
với phân chim.
Rồi đến thời của CD,
VCD,...những anh này cũng chẳng tồn tại lâu khi công nghệ kỹ thuật số ngày một
tiến bộ, giờ đây người ta nghe bằng iphone, handhel với những kho nhạc khổng lồ.
Tưởng đã phôi pha, nhưng
có một trào lưu mới âm thầm hình
thành dựa trên những nền tảng cũ, họ tìm về với băng cối, đĩa than, amply
đèn...những thứ mà cả một dòng 8x, 9x... hầu như chưa nghe nói. Bây giờ có vẻ
đã dễ hơn, nhưng trước đây, giữa cái thời của nhạc số để “dựng” được một “con
đèn” * chẳng hề đơn giản, người ta phải kỳ công đi săn tìm những chiếc bóng sợi
đốt vốn bị cho ra hàng đồng nát tự thủa nào. Sau lại hì hụi chế tác, nào khoan,
nào đục, rồi thì quấn biến thế. Cứ vậy, nhanh cũng phải tính cũng bằng tháng,
có kẻ còn kỳ công tìm cho được những chiếc ốc vít cùng loại để bắt phụ tùng khiến
cho sản phẩm khi ra đời mang rất đậm dấu ấn cá nhân.
Chẳng biết
có hay hơn không, nhưng nhìn họ mơ màng giữa những Diễm xưa, Còn tuổi
nào nào cho em... lại nhớ chị hàng xóm, sớm nay vừa quét sân vừa ngân nga hát.
Hỏi sao vui vậy, chỉ thấy hồng đôi má lỏn lẻn cười, mới hay đêm qua gió Xuân đã
về.
XE
Là xe hai
bánh thôi, phải nói ngay vậy kẻo gây hiểu lầm.
Đối với dân yêu xế cổ thì sành điệu không bao giờ đồng nghĩa với SH,
Dylan hoặc những gì đại loại. Lèng mèng ra thì cũng phải 67, minsk, kích, cup.
Cao cấp hơn sẽ là veppa cổ, sidecar...những chiếc xe được sản xuất ít nhất cũng
phải từ những năm 50 của thế kỷ trước, độc đáo hơn thì có Mobylette, Peugeot...
Xứ ta – Lạng
sơn - nói đến xe Minsk chắc chẳng ai lạ gì, nhất là các bác, các anh 6x, 7x,
vào những năm mới mở cửa, hàng hóa về nhiều, số lượng xe “con cò” ở Lạng sơn
nhiều đến nỗi có người đã gọi đây là thành phố Min. Nhiệm vụ của chúng là thồ
hàng, người, chúng còn được biết đến với
cái tên: xe cẩu pỉnh, nổi tiếng dạo nào.
Xe Minsk sử
dụng côn tay bóp rất nặng, không có đề, cần khởi động bên chân trái cũng thuộc
hàng khủng, người yếu, nhỏ con nhất là phụ nữ rất ngán ngẩm. Đã vậy lại hay chảy
dầu, thế nên lúc nào trông cũng lem nhem, rất khó yêu.
Sau một thời
làm mưa làm gió, những chiếc xe có xuất
xứ từ liên bang Xô viết đã dần vắng bóng. Để nhường chỗ cho Dream, Viva...là những nhãn hàng đến
từ các nước có nền công nghiệp phát triển hơn. Người ta dần quên đi chiếc xe có
chiếc bình xăng tròn in hình con sếu đang vươn mình bay về phía trước.
Rồi đến một
ngày chẳng rõ vì hoài cổ hay đã chán xe hiện đại, dễ điều khiển, những tay chơi
bắt đầu săn tìm Minsk. Xe còn tốt rất hiếm, đa số đều phải phục chế lại từ nước
sơn, khung càng, gầm bệ...Tất thảy đều phải được đưa vào xử lý lại, để rồi ít
lâu sau chiếc xe hai thì chạy xăng pha nhớt lại tanh tanh nhả khói trên đường.
Chơi xe cổ
cũng có những yêu cầu khắt khe, vì xe cũ, vận hành đã lâu, nên khá đỏng đảnh, với Minsk, ngay chuyện đổ
xăng thôi cũng đủ phiền phức, bây giờ thật hiếm còn đâu người ta bán xăng pha.
Vậy là chủ nhân của nó phải sắm riêng cho xe một lọ dầu để mổi khi đổ xăng lại
rón rén pha thêm, mà đây, cũng là một thú vui, nhiều quá xe chạy bốc nhưng xả
khói, ít lại khiến xe ì ạch dù đỡ ô nhiễm hơn. Nay để giảm đi cái nhìn thiếu
thiện cảm của dân tình, người ta đã chế ra xăng thơm, đúng ra là nhớt thơm, có
mùi dễ chịu.
Trong những chuyến đi xa – bây giờ gọi là phượt
– chẳng thể thiếu bộ đồ nghề sửa chữa với những cale mỏ lết, ai mà biết con
trâu già ấy sẽ dở chứng khi nào.
Cách đây mấy
năm, nghe nói trong Bắc Sơn có người còn giữa được chiếc Simson khá đẹp, tôi rủ
anh bạn chung sở thích làm một chuyến về nguồn. Hỏi han mãi rồi cũng tìm ra địa
chỉ, chiếc xe để dước gầm sàn, sạch sẽ, bóng lộn và được dựng chống giữa trên một
tấm ván kê cao. Trà nước xong xuôi rồi, đến khi hỏi mua thì chủ nhà nhất định
không bán dù giá cả cứ được trả cao dần lên. Mãi sau mới biết chiếc xe là kỷ niệm
của một thời gian khó với bao nhiêu buồn vui, nay khi kinh tế đã tạm ổn rồi, cứ
lâu lâu chủ nhà lại đem ra lau chùi rồi nổ máy, chạy một vòng quanh thị trấn –
Cho đỡ nhớ! - Ông bảo thế.
Nghe ông nói
chuyện và cái cách ông nhìn nó tôi có cảm tưởng như ông đang nói về một người bạn
chứ không đơn thuần chỉ là một chiếc xe.
CHIM
Ông bà ta
nói cấm có sai, phú quý thì sinh lễ nghĩa, xưa lúc thiếu ăn có bói cũng rất khó
tìm được người chơi chim. Có chăng thì cũng là những bậc phú hộ, công tử nhiều
tiền mới dám, miệng ngậm tẩu, tay xách lồng đựng con chim quý mà đi dạo phố.
Đâu có chỗ cho đám thường dân bần hàn.
Giờ thì nhà
nhà chơi, người người sắm, ít đôi chú họa mi sáng sáng véo von đầu hè, hơn nữa
cũng phải trên chục lồng với đủ kiểu chào mào khuyên yểng, nói thật nhiều lúc
chúng kêu đủ váng tai.
Còn có cả hiệp
hội chim các miền, các vùng, tỉnh, huyện... cứ đến kỳ, lại tụ họp nhau mở hội
thi chim, nói bảo ngoa nhưng đã từng có những chú chim được dân chơi định giá
lên đến cả trăm triệu bởi sự độc đáo, riêng có của chúng. Chẳng biết có phải vì
cái trị giá ấy không mà người ta săn lùng, chui rúc khắp hang cùng ngõ hẻm để
mong đổi đời nhờ chim.
Đứng hàng đầu
chắc là họa mi, và thường được đem ví với những ca sỹ có giọng hát hay, truyền
cảm, nhưng lại phải là nữ, chẳng ai bảo Trọng Tấn hát hay như chim họa my cả,
chỉ có Mỹ Tâm, hay nàng Adele bên Anh quốc xa xôi mới được ví với loài chim
này. Nhưng chơi mới biết, hóa ra họa my hót hay lại là chim đực, con mái tưởng
gì hóa ra chỉ kêu xùy xùy, có mỗi tác dụng động viên các anh lên giọng hoặc choảng
nhau mỗi khi giáp mặt mà thôi
Mới nhìn qua
tưởng ai cũng tao nhân mặc khách, nho nhã thâm sâu. Nhưng rồi mới hay phần người
ta cũng chỉ chơi theo phong trào, cho đỡ thua chị kém em, hoặc đang cố tìm lợi
nhuận ở trong ấy, chẳng thi vị gì đâu.
Xóm tôi có
lão kia mới thật dị thường, trong khi thiên hạ đua nhau nuôi và chơi những giống
chim quý, đẹp thì chẳng hiểu lão kiếm đâu ra một con cú mèo, cho vào lồng treo
ngay trước cửa, bên dưới là bàn cờ lão dùng tiếp bạn bè mỗi sáng. Cứ chiều chiều
lúc sắp đổ tối người ta lại nghe tiếng cú kêu, nó vẫn chưa quên những ngày
hoang dã. Có người phàn nàn, lão bảo nó hót đấy, nếu hiểu thì con cú chả khác
gì những họa mi, cu gáy, khi no bụng hoặc vui thì nó hót lên thôi!
KẾT
Kể ra thì
còn nhiều, có khi lan man cả buổi vẫn chưa hết được chuyện về các thú chơi, có
món để vui, để lành, nhưng cũng có thứ làm tan cửa nát nhà như không. Nghề chơi
quả lắm công phu, nhắn ai mê gì thì mê cũng cứ phải tỉnh táo mà so đo trên dưới.
Không chơi cũng phí hoài cái kiếp người, có khi còn làm cho ta trở nên khô khan
cứng nhắc bởi chẳng có gì để cân bằng, nhất là trong cái thời cuộc lắm thứ vướng
tai này.
HẾT
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét