Thứ Ba, 15 tháng 12, 2015

LÃNG ĐÃNG MẤY THÚ CHƠI

LÃNG ĐÃNG MẤY THÚ CHƠI




Đời người ta ngắn lắm thay, vẫn biết cái nợ hồng trần chẳng buông tha ai, nhưng nếu có một thú chơi cho riêng mình, để sau những lúc gồng lên mà chống trả với lợi, danh, ta lại có những khoảng êm đềm, chỉ riêng ta thôi, trần trụi.


CÂU


Anh bạn tôi vốn rất mê câu, nếu gặp người cùng sở thích anh có thể nói hàng giờ về chuyện ấy, từ cách làm sao có được một chiếc cần trúc dân dã, đến việc mua ở đâu, hãng nào để có được một dụng cụ câu vừa ý. Anh cũng hay kể về thời thơ ấu, với những mùa câu cháy nắng dọc sông Kỳ Cùng, sản phẩm mà anh mang về rất phong phú nhưng nhiều hơn cả là  giống trạch trấu, một loài cá da trơn nước ngọt sống trong những sông suối có nhiều hang đá.
Trạch chấu kiếm mồi ở tầng đáy, là giống phàm ăn, thả mồi xong hễ thấy đầu cần rung nhẹ rồi sợi cước bị kéo đi một vệt dài là chắc chắn có ăn. Không gì hồi hộp bằng việc kéo từ dưới nước một chú cá đen trũi dài cỡ gang tay, loằng ngoằng quẫy. Gặp đàn, có khi chỉ ngồi một chỗ cỡ đôi tiếng là có ngay đĩa cá sông thơm nức mũi. Trạch chấu dễ làm, nhiều thịt, ít xương, thơm ngon hiếm thấy. Xưa – gọi thế cho xưa – chứ cũng chỉ cách nay độ 3-4 chục năm thôi ,việc kiếm được những chú trạch trấu cỡ dăm, bảy lạng không phải là hiếm, nay thì tuyệt tích rồi.
Một loài nữa cũng hay xuất hiện trong câu chuyện của anh, ấy là, giữa trưa Hè đứng trên cao nhìn xuống khúc sông vắng, thấy có những tăm bọt sủi lên thì kiểu gì cũng có mặt chúng ở đó. Nếu trên bờ lại có đôi doi cát lẫn trong đám cây bụi thì chẳng còn nghi ngờ gì, đó là nơi ba ba lên đẻ trứng vào mùa sinh sản.- Xưa nhà nghèo, mỗi lần câu được  nào có dám ăn, lại lóc cóc đem lên đầu xóm nơi có ngôi nhà gạch rộng của lão Bạch buôn ngựa, đổi lấy mấy đồng đong gạo! – Anh ngậm ngùi kể - lão ấy giàu vì có đường dây ngựa từ Tây Bắc về, ngựa thồ, ngựa kéo, lại cả ngựa trắng dùng nấu cao nữa. Mỗi năm vài chuyến,  lão trở nên giàu nhất tổng. Mãi sau này mới hay ngựa ấy chỉ  để che mắt thôi, hàng của lão là những bao, lồ cơm đen được ngụy trang khéo nằm trên lưng ngựa ấy.
Nói về câu tôi lại nhớ chuyện ông Lã Vọng đời xưa ở bên Tàu, ngồi trên bờ sông Vị chờ bậc minh quân với chiếc cần câu lưỡi thẳng, có người thấy lạ tò mò hỏi hỏi, ông cười; lưỡi cong chỉ để câu loài thủy sinh còn ta chờ câu những Hầu, những Bá cơ!




NHẠC

Âm nhạc quả là một thứ có ma lực mãnh liệt, chẳng có ai mà không có những lúc cao hứng nghêu ngao đôi câu hát. Tất nhiên, giống như đời, nhạc cũng có nhiều thể loại, cũng chừng ấy những nhóm người yêu nhạc khác nhau, gọi là gu. Nhưng nói đến gu thì lại phải nhắc chữ sành. Dân sành nhạc, là một cụm từ khó cắt nghĩa, chỉ biết rằng đã được xếp vào trong nhóm này thì hẳn không phải là những kẻ hời hợt, nông cạn.
Bàn  về nhạc,  tôi nhớ ngay đến chiếc băng catxet, vốn rất thịnh hành một thời, tất nhiên là  có nhiều kỷ niệm. Một trong số ấy là những buổi tối, gần như cả xóm lao động nghèo sau một ngày  vất vả lại tập trung ở nhà ông giáo Vĩnh, nghe cải lương từ cái máy Shap ba con bảy chạy awcsquy mà cứ mỗi phiên ông lại đèo xuống chợ huyện nạp đầy. Chỉ  để phục vụ bà con thưởng thức những Lan và Điệp, Tướng cướp Bạch Hải Đường...
Xa hơn nữa, khi lui về dĩ vãng phải kể đến những chiếc máy hát –  hồi đó người ta gọi như thế – sử dụng đĩa nhựa  to như vành mũ, mà có dạo dùng để lót lồng chim. Thôi! Những Bach (Johann Sebastian Bach) , Môda, Bét Thô Ven ( Ludwig van Beethove) đâu có ngờ đâu rằng rồi có một ngày những tuyệt phẩm của mình sẽ được sống cùng với phân chim.
Rồi đến thời của  CD, VCD,...những anh này cũng chẳng tồn tại lâu khi công nghệ kỹ thuật số ngày một tiến bộ, giờ đây người ta nghe bằng iphone, handhel với những  kho nhạc khổng lồ.
Tưởng đã phôi pha, nhưng  có một trào lưu mới âm thầm hình thành dựa trên những nền tảng cũ, họ tìm về với băng cối, đĩa than, amply đèn...những thứ mà cả một dòng 8x, 9x... hầu như chưa nghe nói. Bây giờ có vẻ đã dễ hơn, nhưng trước đây, giữa cái thời của nhạc số để “dựng” được một “con đèn” * chẳng hề đơn giản, người ta phải kỳ công đi săn tìm những chiếc bóng sợi đốt vốn bị cho ra hàng đồng nát tự thủa nào. Sau lại hì hụi chế tác, nào khoan, nào đục, rồi thì quấn biến thế. Cứ vậy, nhanh cũng phải tính cũng bằng tháng, có kẻ còn kỳ công tìm cho được những chiếc ốc vít cùng loại để bắt phụ tùng khiến cho sản phẩm khi ra đời mang rất đậm dấu ấn cá nhân.
 Chẳng biết  có hay hơn không, nhưng nhìn họ mơ màng giữa những Diễm xưa, Còn tuổi nào nào cho em... lại nhớ chị hàng xóm, sớm nay vừa quét sân vừa ngân nga hát. Hỏi sao vui vậy, chỉ thấy hồng đôi má lỏn lẻn cười, mới hay đêm qua gió Xuân đã về.


XE

Là xe hai bánh thôi, phải nói ngay vậy kẻo gây hiểu lầm.  Đối với dân yêu xế cổ thì sành điệu không bao giờ đồng nghĩa với SH, Dylan hoặc những gì đại loại. Lèng mèng ra thì cũng phải 67, minsk, kích, cup. Cao cấp hơn sẽ là veppa cổ, sidecar...những chiếc xe được sản xuất ít nhất cũng phải từ những năm 50 của thế kỷ trước, độc đáo hơn thì có Mobylette, Peugeot...
Xứ ta – Lạng sơn - nói đến xe Minsk chắc chẳng ai lạ gì, nhất là các bác, các anh 6x, 7x, vào những năm mới mở cửa, hàng hóa về nhiều, số lượng xe “con cò” ở Lạng sơn nhiều đến nỗi có người đã gọi đây là thành phố Min. Nhiệm vụ của chúng là thồ hàng, người,  chúng còn được biết đến với cái tên: xe cẩu pỉnh, nổi tiếng dạo nào.
Xe Minsk sử dụng côn tay bóp rất nặng, không có đề, cần khởi động bên chân trái cũng thuộc hàng khủng, người yếu, nhỏ con nhất là phụ nữ rất ngán ngẩm. Đã vậy lại hay chảy dầu, thế nên lúc nào trông cũng lem nhem, rất khó yêu.
Sau một thời làm mưa làm gió,  những chiếc xe có xuất xứ từ liên bang Xô viết đã dần vắng bóng. Để nhường  chỗ cho Dream, Viva...là những nhãn hàng đến từ các nước có nền công nghiệp phát triển hơn. Người ta dần quên đi chiếc xe có chiếc bình xăng tròn in hình con sếu đang vươn mình bay về phía trước.
Rồi đến một ngày chẳng rõ vì hoài cổ hay đã chán xe hiện đại, dễ điều khiển, những tay chơi bắt đầu săn tìm Minsk. Xe còn tốt rất hiếm, đa số đều phải phục chế lại từ nước sơn, khung càng, gầm bệ...Tất thảy đều phải được đưa vào xử lý lại, để rồi ít lâu sau chiếc xe hai thì chạy xăng pha nhớt lại tanh tanh nhả khói trên đường.
Chơi xe cổ cũng có những yêu cầu khắt khe, vì xe cũ, vận hành đã lâu,  nên khá đỏng đảnh, với Minsk, ngay chuyện đổ xăng thôi cũng đủ phiền phức, bây giờ thật hiếm còn đâu người ta bán xăng pha. Vậy là chủ nhân của nó phải sắm riêng cho xe một lọ dầu để mổi khi đổ xăng lại rón rén pha thêm, mà đây, cũng là một thú vui, nhiều quá xe chạy bốc nhưng xả khói, ít lại khiến xe ì ạch dù đỡ ô nhiễm hơn. Nay để giảm đi cái nhìn thiếu thiện cảm của dân tình, người ta đã chế ra xăng thơm, đúng ra là nhớt thơm, có mùi dễ chịu.
 Trong những chuyến đi xa – bây giờ gọi là phượt – chẳng thể thiếu bộ đồ nghề sửa chữa với những cale mỏ lết, ai mà biết con trâu già ấy sẽ dở chứng khi nào.
Cách đây mấy năm, nghe nói trong Bắc Sơn có người còn giữa được chiếc Simson khá đẹp, tôi rủ anh bạn chung sở thích làm một chuyến về nguồn. Hỏi han mãi rồi cũng tìm ra địa chỉ, chiếc xe để dước gầm sàn, sạch sẽ, bóng lộn và được dựng chống giữa trên một tấm ván kê cao. Trà nước xong xuôi rồi, đến khi hỏi mua thì chủ nhà nhất định không bán dù giá cả cứ được trả cao dần lên. Mãi sau mới biết chiếc xe là kỷ niệm của một thời gian khó với bao nhiêu buồn vui, nay khi kinh tế đã tạm ổn rồi, cứ lâu lâu chủ nhà lại đem ra lau chùi rồi nổ máy, chạy một vòng quanh thị trấn – Cho đỡ nhớ! - Ông bảo thế.
Nghe ông nói chuyện và cái cách ông nhìn nó tôi có cảm tưởng như ông đang nói về một người bạn chứ không đơn thuần chỉ là một chiếc xe.









CHIM



Ông bà ta nói cấm có sai, phú quý thì sinh lễ nghĩa, xưa lúc thiếu ăn có bói cũng rất khó tìm được người chơi chim. Có chăng thì cũng là những bậc phú hộ, công tử nhiều tiền mới dám, miệng ngậm tẩu, tay xách lồng đựng con chim quý mà đi dạo phố. Đâu có chỗ cho đám thường dân bần hàn.
Giờ thì nhà nhà chơi, người người sắm, ít đôi chú họa mi sáng sáng véo von đầu hè, hơn nữa cũng phải trên chục lồng với đủ kiểu chào mào khuyên yểng, nói thật nhiều lúc chúng kêu đủ váng tai.
Còn có cả hiệp hội chim các miền, các vùng, tỉnh, huyện... cứ đến kỳ, lại tụ họp nhau mở hội thi chim, nói bảo ngoa nhưng đã từng có những chú chim được dân chơi định giá lên đến cả trăm triệu bởi sự độc đáo, riêng có của chúng. Chẳng biết có phải vì cái trị giá ấy không mà người ta săn lùng, chui rúc khắp hang cùng ngõ hẻm để mong đổi đời nhờ chim.
Đứng hàng đầu chắc là họa mi, và thường được đem ví với những ca sỹ có giọng hát hay, truyền cảm, nhưng lại phải là nữ, chẳng ai bảo Trọng Tấn hát hay như chim họa my cả, chỉ có Mỹ Tâm, hay nàng Adele bên Anh quốc xa xôi mới được ví với loài chim này. Nhưng chơi mới biết, hóa ra họa my hót hay lại là chim đực, con mái tưởng gì hóa ra chỉ kêu xùy xùy, có mỗi tác dụng động viên các anh lên giọng hoặc choảng nhau mỗi khi giáp mặt mà thôi
Mới nhìn qua tưởng ai cũng tao nhân mặc khách, nho nhã thâm sâu. Nhưng rồi mới hay phần người ta cũng chỉ chơi theo phong trào, cho đỡ thua chị kém em, hoặc đang cố tìm lợi nhuận ở trong ấy, chẳng thi vị gì đâu.
Xóm tôi có lão kia mới thật dị thường, trong khi thiên hạ đua nhau nuôi và chơi những giống chim quý, đẹp thì chẳng hiểu lão kiếm đâu ra một con cú mèo, cho vào lồng treo ngay trước cửa, bên dưới là bàn cờ lão dùng tiếp bạn bè mỗi sáng. Cứ chiều chiều lúc sắp đổ tối người ta lại nghe tiếng cú kêu, nó vẫn chưa quên những ngày hoang dã. Có người phàn nàn, lão bảo nó hót đấy, nếu hiểu thì con cú chả khác gì những họa mi, cu gáy, khi no bụng hoặc vui thì nó hót lên thôi!

KẾT

Kể ra thì còn nhiều, có khi lan man cả buổi vẫn chưa hết được chuyện về các thú chơi, có món để vui, để lành, nhưng cũng có thứ làm tan cửa nát nhà như không. Nghề chơi quả lắm công phu, nhắn ai mê gì thì mê cũng cứ phải tỉnh táo mà so đo trên dưới. Không chơi cũng phí hoài cái kiếp người, có khi còn làm cho ta trở nên khô khan cứng nhắc bởi chẳng có gì để cân bằng, nhất là trong cái thời cuộc lắm thứ vướng tai này.



HẾT

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét