Tôi không rõ lắm chuyện ông Phi đen khi xưa vì sao không chọn chủ nghĩaTư bản làm lý tưởng phấn đấu cho mình, khiến cả đất nước phải chịu cảnh thiệt thòi suốt hơn nửa thế kỷ, thay vì lẽ ra thế giới đã có một Cuba hùng cường, bởi rất nhiều thế mạnh mà quốc gia này may mắn được sở hữu.
Nhưng tôi lại vô cùng ấn tưởng với những thước phim chiếu cảnh ông ta mặc quân phục, đeo súng bên hông đi vào tận vùng chiến thuật ở trên dãy Trường Sơn để thị sát tình hình chiến sự. Nếu như ở vào thời điểm đó công nghệ thông tin phát triển như bây giờ thì đây chắc chắn sẽ là một động lực vô cùng mạnh mẽ cho những người lính đang chiến đấu ở ngoài chiến trận. Không có cái thực tâm của những người đồng chí, không có sự vô tư trong sáng của lý tưởng vô sản, thì sẽ chẳng bao giờ ông ta mạo hiểm thực hiện chuyến đi đó.
Rất có thể trong giai đoạn ấy, sự ngộ nhận về ý thức hệ vẫn còn là một rào cản trong tư duy của rất nhiều người, và tất nhiên, có ông ta. Dù vậy tôi vẫn nghĩ rằng còn những lý do khác nữa đến từ người Mỹ, rất có thể họ đã làm điều gì đó khiến cho ông, một dạng anh hùng hảo hán kiểu Hạng Võ phải phật lòng.
Nếu như Bá Vương nhận lấy sự thảm bại sau năm năm cầm quyền bính trên bến sông Ô, thì Phi đen âm thầm chịu đựng sự thất bại kéo dài nhiều năm sau đó. Ấy là ông đã không làm cho dân chúng trên hòn đảo nọ được ấm no, hay nhiều hơn hữa là giàu có, sung túc, ông không đưa được Cuba trở nên cường thịnh như từ sâu thẳm trong tâm hồn ông vẫn luôn mong như vậy. Riêng với tôi đó là một điều đáng tiếc.
Nhưng cái tình của người Cuba với Việt nam là điều không bao giờ phủ nhận được, lúc ấy có dư dả gì đâu, thế mà họ, vẫn gửi đường, lương thực và nhiều thứ khác cho chúng ta trong những ngày đen tối nhất.Điều quan trọng mà tôi muốn nhấn mạnh ở đây là sự giúp đỡ ấy nó vô tư, chân thành, khác với kiểu tương trợ có toan tính của một vài người “ bạn lớn ” nào đó vốn luôn to mồm xưng là đồng chítốt với chúng ta.
Trong cuộc gặp gần đây của ông quốc trưởng với những người anh em Cu ba xưa, dù chỉ được xem qua truyền hình tôi vẫn cảm nhận được sự chân tình đến từ phía họ và nó mang đến một nỗi xúc động rất riêng cho cá nhân tôi khi một đồng chí – tôi vẫn muốn gọi như thế - cao tuổi đứng lên nói rằng; Ông chủ tịch thấy đấy, tóc chúng tôi nay đã trắng cả rồi nhưng tình cảm dành cho cho Việt nam thì vẫn như hồi trai trẻ mà thôi...Viết đến đây tôi chợt nhớ mấy câu thơ xưa:
Người lính già đầu bạc
Kể mãi chuyện Nguyên Phong
Từ đáy lòng mình tôi thầm mong cho họ - những người anh em ở bên kia bán cầu – sẽ nhanh chóng hòa nhập với thế giới một cách mạnh mẽ sau giấc ngủ dài, để chỉ nay mai thôi, Cuba sẽ là một ngôi sao sáng bên cạnh nước Mỹ đang mở rộng lòng mình.
Để tôi luôn được tự hào với những dân tộc khác rằng chúng ta có một người bạn, người đồng chí như thế.
Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2015
Thứ Năm, 8 tháng 10, 2015
NGƯỜI ĐẾN SAU
Truyện này dài lắm - đành post từng phần -
Truyện dài của Bế
Mạnh Đức
Câu chuyện kể về cuộc chiến của cơ quan anh ninh Việt Nam với
những phần tử phản động, lợi dụng chiêu bài dân chủ hòng mưu cầu lợi ích cá
nhân. Bọn chúng phần lớn là những kẻ cơ hội chính trị, háo danh, tội phạm, sa
đọa... chứ thực ra chẳng phải vì lý tưởng nào cả...
Bàn Xuân Ký ( Triệu Quang ) một sinh viên
nghành An ninh vừa ra trường, với tố chất đặc biệt anh được chọn làm người nằm
vùng. Từ đây, anh đã có một hành trình đầy gian nan khi phải hoạt động đơn
tuyến trong lòng những kẻ phản động.
Câu chuyện bắt đầu.
1 – CỜ
VÀNG
Marseille – Pháp.
Trên
mỏm đồi nằm trong khuôn viên của trường Aix Marceille có một nhóm người châu Á
trẻ tuổi đang thư giãn dưới ánh nắng nhẹ của một ngày mùa Thu. Họ, kẻ nằm người
ngồi, có người cầm theo cả sách. Cỏ mùa này không được xanh như hồi tháng trước mà đã hơi chuyển sang vàng, cách
đó không xa, mấy cây phong cổ thụ thi thoảng lại rải một lớp lá, lá theo gió
bay xuống tận chân đồi.
Minh
dựa lưng vào chân ghế đá, miệng ngậm một cọng cỏ, mắt lơ đãng nhìn ra phía xa
nơi có những toàn nhà ẩn hiện sau hàng cây to, xa hơn nữa là Địa Trung Hải mêng
mông. Ba năm ở đây chưa khi nào Minh
thấy chán cảnh trời trong xanh và nắng nhẹ mỗi khi mùa Thu đến. Dù thật lòng có
lúc cậu cũng nhớ quay quắt mùi hoa sữa trên đường Nguyễn Du.
Chợt
điện thoại rung nhẹ, à một cuộc hẹn lúc bốn giờ. Dòng chữ nhắc nhở kéo cậu trở
lại hiện tại.
Người phụ nữ lạ mặt hôm trước đã khiến cậu đi từ
cảnh giác đến tò mò, chị ta đang có một lời đề nghị cộng tác. Tất nhiên, cũng
chưa có gì, tất cả cũng chỉ là hai cuộc nói chuyện, chủ yếu xoay quanh nghành
học của Minh.
Hôm
qua, chị ta lại gọi và đề nghị được gặp Minh tại một quán caphê ngay cầu cảng,
những giấy tờ mà người phụ nữ nọ muốn xem cậu đã chuẩn bị đầy đủ. Cũng chỉ là
vài dòng trích ngang và điểm số kỳ học gần nhất mà bất cứ sinh viên nào muốn làm thêm cũng đều phải trình cho đối
tác.
Cơ
hội việc làm đến với Minh giống như một sự may mắn tình cờ, sang đây với học
bổng toàn phần, nhưng có rất nhiều những khoản phụ trội khác phải chi trả, nhà
nghèo, chẳng còn cách nào khác ngoài, bố mẹ cậu đã phải vay ngân hàng để gửi
tiền cho cậu, khiến Minh chẳng lúc nào yên lòng.
Còn
30 phút nữa là đến giờ hẹn.
*
* *
Việt Nam.
Trên một con phố khá
yên tĩnh, văn phòng luật sư“ Trần và cộng sự” nằm ngay dưới một tán sấu già, phía
trong mấy nhân viên tập sự đang cắm cúi vào chồng hồ sơ cao ngất ở trước mặt,
họ có rất nhiều việc phải làm. Không có ai để ý đến một người vừa bước vào, sau
vài giây lưỡng lự, anh ta đi về phía cầu thang dẫn lên tầng trên, ngay khi cô
tiếp tân kịp đứng lên.
Trước khi đặt chân lên bậc thang đầu tiên
người này còn ngoảnh về phía cô gái đang hơi lúng túng làm một cử chỉ giống như
là sự trấn an, anh ta chỉ tay lên trên rồi nhoẻn miệng cười. Việc một thân chủ
có quen thân với luật sư là khá bình thường và họ có thể hẹn với nhau mà không
cần thông qua thư ký cũng không có gì lạ, nếu chăng thì chỉ là do sự lơ đễnh
của người lãnh đạo văn phòng đã không kịp thông báo cho cô mà thôi. Nghĩ vậy,
cô cũng lịch sự cười đáp lễ trước khi người nọ khuất sau cầu thang.
Công việc của một
sinh viên luật mới ra trường không hề giống với những gì mà cô gái vẫn nghĩ,
chẳng thế mà giờ đây cô đang đứng trước cửa phòng luật sư trưởng với hai tách
càphê trên khay, có khi họ còn muốn uống thêm thứ gì đó mà văn phòng không sẵn.
Những lúc như thế cô lại phải chạy sang bên kia đường nơi có cửa hiệu tạp hóa
khá lớn, và bà chủ thì đã quen mặt cô từ bao giờ.
-
Cứ để đấy đấy đi – Luật sư trưởng
cất giọng trầm ấm sau khi cô đã ở trong phòng.
Người khách khi nãy lại mỉm
cười với cô, nụ cười của anh ta rất sáng và việc sở hữu một gương mặt trông
minh khiến cho chủ nhân của nó có thừa
vẻ hấp dẫn.
Cô gái trẻ bỗng thấy bối rối, hình như má cô
bắt đầu hồng lên. Sau khi đặt đồ uống xuống cô xin phép ra ngoài trong khi tim
bắt đầu hơi loạn nhịp.
Đúng lúc cô định khép lại cánh cửa phòng thì
lại có tiếng của sếp:
-
À này...
*
**
Marseille – Pháp.
Minh
rời xe buýt ở bến số 12, cầu cảng ở đằng kia, cậu muốn đi bộ một quãng,
mùi của biển chiều phả mạnh vào mặt Minh nồng nồng. Cái dáng cao nhưng gầy gò
của cậu có vẻ chẳng vững vàng mấy trước sự mêng mông của biển cả.
Vẫn chiếc khăn voan
đen và cặp kính sẫm màu, người phụ nữ Minh gặp hôm trước đang ngồi nhả khói sau
chiếc bàn đơn, nhìn chị ta chẳng khác nào một quý bà rảnh rỗi và đầy đủ đang
tìm cho mình những giây phút riêng tư.
Sau ngụm càphê chị ta tháo kính đặt nó lên bàn
và bắt đầu nói:
-
Như tôi đã thông tin cho cậu, công
ty chúng tôi đang nghiên cứu một loại thuốc chữa hen suyễn mà thành phần chủ
yếu là các loại thảo dược đến từ vùng nhiệt đới, cũng đúng là nghành học của cậu...à năm mấy
rồi nhỉ?
-
Dạ em năm cuối! – Minh rụt rè trả
lời
Người đối diện lại rít một hơi thuốc nữa, đó
là là hơi cuối cùng của điếu malborro trắng, chị ta di di nó trong cái gạt tàn
một cách chậm rãi như muốn đắn đo điều gì.
Câu chuyện của họ kéo dài cho tới tận lúc đèn
đường được bật lên, nếu đứng ngoài cửa kính mà nhìn vào thì ai cũng nghĩ đây là
một cặp nam nữ đang ở giai đoạn làm quen và mọi thứ có vẻ đi theo chiều hướng
tốt khi mà thi thoảng cô gái lại cười phá lên, còn chàng trai chốc chốc lại vui
vẻ gật đầu.
Lúc rời
khỏi bàn người phụ nữ đưa cho Minh một tấm danh thiếp. Cậu cầm nó và đọc thấy
một địa chỉ ở Paris, hình như là một văn phòng đại diện của một hãng dược phẩm.
-
À này, tôi cũng từng sống bốn năm
ở Hà nội đấy – trước khi khuất sau cánh cửa, chị ta hơi dừng lại chìa bàn tay
ra – Tôi cũng thấy nhớ những chiều Hồ Tây lộng gió, cả cái màu tím của bằng
lăng nữa...haiza, không biết khi nào lại được về thăm...
Bỏ lửng câu nói, chị ta một lần nữa gật đầu
chào Minh rồi duyên dáng bước ra ngoài.
*
**
Hà Giang, Việt Nam.
Bản làng vẫn chìm
trong mây phủ, những ngày chớm Đông năm nào cũng thế, chỉ khi mặt trời lên quá ngọn Pia Djang thì bản người Dao mới
bắt đầu lấp ló hiện ra trên sườn những quả đồi cao.
Gia tộc họ Bàn sinh
sống ở đây chẳng biết từ khi nào, chỉ thấy những mái ngói đã phủ vài lớp rêu,
nó cũng không hẳn xanh có khi còn lẫn cả sắc đỏ tía nữa.
Sau bờ
tường được xếp bởi những viên đá là khoảng sân rộng, lẫn trong sương có
bóng một chàng trai đang mải mê đi quyền, những động tác dứt khoát, mạnh mẽ
khiến cho người xem như được truyền thêm sức sống.
Phía xa dưới hiên ngôi nhà hai gác được làm từ
những thân gỗ lớn, người đàn ông chỉ còn một tay đang nheo mắt dõi theo từng
động tác múa quyền ngoài kia. Thi thoảng ông lại gật gù, nhưng có đôi lúc ông
cũng nheo mắt khẽ lắc đầu.
Sau thét Kiai dữ dội tốc độ của anh ta dần
chậm lại rồi dừng hẳn. Vuốt mồ hôi trên thái dương anh tiến lại gần hiên nhà.
-
Bố thấy sao? – Vừa hỏi anh ta vừa
đưa tay với chai nước
-
Ấy đừng, đang này lúc lỗ chân lông
nở to không nên uống nước con ạ, đợi vài phút đã.
Người đàn ông một tay vừa vỗ vai chàng trai
vừa ôn tồn nói:
-
Có tiến bộ, nhưng vì đây là bài
quyền cổ nên con cần có thời gian để nghiền ngẫm hơn.
-
Ở trường con, các thầy cũng bảo,
hệ phái này đang ít dần, ngay cả ở Nhật người ta cũng chỉ truyền trong dòng họ
hoặc người thân tín mà thôi. À, bố vẫn chưa nói cho con biết lý do bố thành
thạo môn này đến vậy?
Người đàn ông lớn tuổi trầm ngâm giây lát rồi
gật gù kể:
-
Năm 1957, ông nội con trở về từ
Tây Bắc, cùng đi có một người mang quân
hàm đại úy, nhưng đó lại là một người Nhật, ông nội kể, trước đây ông ấy chiến
đấu trong quân đội Thiên Hoàng, đến Việt Nam từ năm 43, sau được ta giác ngộ
nên đã trở thành lính cụ Hồ.
Họ cùng đánh trận Điện Biện,
rồi tình cờ biết ông con đang là truyền nhân thứ 7 của môn võ dân tộc Dao, vị
đại úy nọ vốn là một cao đồ của môn Không Thủ Đạo đã gửi lời thách đấu.
Ông nội con không kể về trận
đấu đó, chỉ biết rằng không lâu sau họ
nhanh chóng trở thành bạn của nhau. Ông ấy đã ở nhà mình gần 3 năm trước khi về
Nhật Bản.
-
Lúc đó bố bao nhiêu tuổi? – Người
thanh niên tò mò hỏi.
-
Khoảng sáu bảy tuổi gì đó, suốt
thời gian ấy ông nội con và người chiến binh ngoại quốc nọ thay nhau chỉ dạy
những kỹ thuật đặc sắc của môn phái mình cho nhau, tất nhiên bố là người được
lợi hơn cả...
Nói đến đây, ông cười vang, nghe tiếng cười ấy
ai cũng sẽ đồng ý rằng chủ nhân của nó phải có sức khỏe rất tốt, chưa kể còn là
một người mang nội lực cao thâm, ít gặp trong đời.
-
À... đợt này con được nghỉ lâu
không? – Lúc này, hai cha con đã gọn gàng trong bộ trang phục thường ngày, họ
ngồi bên chiếc bàn ăn bằng gỗ lâu năm lên nước màu đen bóng.
Vừa hút những sợi mì to, một đặc sản của quê
nhà vào miệng, vừa xít xoa vì cay, chàng thanh niên ngước lên:
-
Hết tuần này bố ạ, trường con đang
chuẩn bị cho đợt dã ngoại dài ngày, ngoài giáo viên của trường còn cả các chuyên
viên trên Bộ xuống, con muốn về nhà thư giãn mấy hôm, chắc là khá căng bố ạ!
Ông bố ngừng ăn chăm chú nhìn đứa con trai,
mới ngày nào cái thằng Ký còm nhomsuốt ngày chạy theo đòi ông dạy bắn nỏ, thế
mà bây giờ trước mắt ông nó đã là một cậu sinh viên năm cuốitrường An ninh rắn
rỏi, đầy sức sống...
-
Ông có lấy thêm không? – Tiếng
người phụ nữ vọng lại từ phía bếp khiến ông ra khỏi dòng suy tưởng, bà đang làm
món gì đó cho hai bố con.
-
Thôi bà ơi, mà bà lên đây ăn cùng
bố con tôi đi...
*
**
Hà nội Việt Nam
Mai ngồi tần ngần bên
cửa sổ, cô cứ xoay xoay trên tay chiếc điện thoại đắt tiền mà Lê Công tặng hôm
qua. Đúng là đại gia có khác, từ khi được luật sư trưởng cho làm phụ tá chính
chịu trách nhiệm vụ kiện tụng liên quan đến doanh nghiệp của Lê Công, Mai mới
biết thế nào là cuộc sống của những người có tiền.
Lại có tin nhắn, người yêu cô, anh ta muốn nhân buổi chiều đẹp
trời cùng cô dạo một vòng Hồ Tây, nhưng cứ nghĩ đến cảnh phải ngồi sau chiếc xe
máy cũ chạy lạch xạch, run rẩy Mai lại thấy sao mà ngán ngẩm, lại còn cái vụ xếp
hàng mua đồ uống nữa mới rõ bực mình.
Cô thấy nhớ hơn chiếc
ghế mềm êm ái của chiếc Audi thơm tho cùng với những nhà hàng sang trọng mà mỗi
lần bàn công việc Lê Công lại đưa cô đến.
Anh ta cũng vừa hẹn sẽ gặp cô chiều nay.
“ E ban roi” – Đó là mẩu tin cuối cùng mà Mai
gửi đi cho chàng người yêu nghèo. Trước khi đóng cửa sổ căn phòng trọ trên gác
năm cô còn nhìn thấy chiếc xe máy màu xanh quen thuộc buồn bã chầm chậm khuất
sau góc phố.
-
Sau cùng thì đám ấy cũng chịu rút
đơn – Vừa nâng ly rượu vang ánh đỏ, Lê Công vừa cười – Có gì đâu, ai mà chẳng
thích tiền, có thể không thích ít nhưng nhiều thì...ha...ha..ha... mà công lớn
cũng là của em đấy, người đẹp ạ!
Giờ đây họ đã yên vị trên chiếc tàu thủy đang
chầm chậm trôi giữa hồ rộng, chỉ có hai người trong một phòng vip. Mai e lệ
nhoẻn cười rồi nhấp một hớp rượu.
-
Tay giám đốc Sở tài nguyên thế mà lại được việc, nhưng nếu anh
không có lời hứa cho thằng con ma cà bông của lão được sang Anh du học thì chắc
là cũng còn lâu – Lê Công lại tiếp tục ồn ào.
-
Mà cái thằng của nợ ấy thì học
hành cái gì cơ chứ, nhưng đời mà...thôi ăn đi em, này em xem, mặt trời đang sắp
lặn rồi kia kìa.
Ở phía Tây, cái quả cầu đỏ rực đang chui dần
xuống mặt nước, hình như nó to hơn bình thường thì phải.
Mai lại khẽ nhìn sang
người đàn ông đang hả hê trong nỗi vui mừng thắng lợi, người ta cứ bảo bọn gian
thương thế này thế kia, chỉ có biết đến lợi nhuận, tiền là trên hết, nhưng Lê
Công lại mang đến cho cô một cảm nhận khác, rất nhiệt tình, sôi nổi nhưng cũng
không kém phần lãng mạn. Mà có tiền thì có gì sai. Người ta sẽ được sống nhiều
hơn, được biết nhiều hơn, anh ta lại nói rồi con người ta sẽ quan niệm về cuộc
sống theo từng giai đoạn của cuộc đời.
Có lẽ đúng, thời sinh
viên với những chiều đạp xe vội vãtrong cơn mưa, rồi bữa cơm đạm bạc nhưng đầy
ắp tiếng cười...có lẽ chỉ đẹp trong ký ức...còn hôm nay mọi thứ sẽ phải khác
đi, mình có sắc đẹp, có học vấn, lại thông minh, con đường trở thành một quý cô
đang ở phía trước. Nghĩ thế Mai lại mỉm cười rồi chủ động nâng ly về phía người
đàn ông lịch lãm ngồi đối diện.
Đêm ấy cô không về
căn gác trọ cũ.
Mai cũng chẳng biết
mình đã tắt máy khi nào, cô chỉ nhớ khi chiếc váy đỏ tuột khỏi vai cũng là lúc
những nụ hôn nóng bỏng của Lê Công bắt đầu tràn ngập khắp cơ thể cô.
*
* *
Paris nước Pháp.
Minh hơi ngại ngần
khi đứng trước dãy nhà đồ sồ nằm ngay trên quảng trường, dù đã gọi điện trước
nhưng quả thực việc gặp gỡ với đại diện của một hãng dược phẩm là điều cậu chưa
từng nghĩ đến. Thực tình, Minh không phải là người giỏi nhất trong số những du
học sinh đang theo học nghành dược ở bên này, thậm chí có một số môn cậu còn
phải thi lại.
Ấy là chưa kể không
ít lần Minh còn công khai chỉ trích bọn người mượn tiếng du học để tiêu tiền, cậu
còn biết rõ những kẻ khi còn ở trong nước vốn là học sinh cá biệt, thế mà chả
hiểu sao lại xuất hiện ở bên này, những người ấy rồi sẽ lại vênh vang khi trở về với tấm bằng
ngoại quốc. Và cũng lại lòe được khối người, với cái mác du học, cộng với tiền
của gia đình họ sẽ lại được cơ cấu vào trong những cơ quan nhà nước với vị trí
mà nhiều người mơ ước, lại còn được
tiếng là đem kiến thức về xây dựng đất nước. Thực ra, với trình độ và tư cách
như họ, bên này chả có công ty hay tổ chức nào chấp nhận cả. Những người như
thế sẽ làm hay phá đây? Cậu cũng hay nói đến những tiêu cực trong thi cử, trong
đời sống khi còn học trong nước, hay thậm chí cậu còn ủng hộ những cuộc biểu
tình tự phát ở Hà Nội hồi năm ngoái.
Tóm lại, nếu để lựa
chọn Minh chẳng thể là một ứng viên tiềm năng.
Đón cậu lần này không
phải là người phụ nữ xinh đẹp quý phái hôm nào, mà là một người đàn ông với bộ
vét cắt khéo ngồi sau chiếc bàn gỗ sồi, ông ta lịch sự bắt tay Minh theo kiểu
vẫn thấy ở những người phương Tây, Minh đồ rằng ông ta đã sống nhiều năm ở đây
rồi.
-
Thế này nhé, à chúng tôi đã được
đọc báo cáo về cậu, mọi thứ đều ổn cả, ổn cả...
Ông ta vừa xoa hai
tay vào nhau vừa hơi nghiêng mình về phía Minh vừa cất giọng nói, cái cử chỉ ấy
khiến cho cậu thấy mình được quan tâm nhiều hơn.
-
Hình như quê gốc cậu ở Nam Định
phải không?
Minh hơi mỉm cười,
cậu có cảm tưởng người ta biết về cậu nhiều hơn những gì cậu đã viết.
-
Vâng, đúng rồi, bố mẹ cháu chuyển
công tác lên Hà Nội lúc cháu đang học dở cấp 2.
-
Tôi cũng quê Nam Định, nhưng gia
đình di cư vào Nam từ hồi năm tư, khi ấy tôi còn trẻ hơn cậu bây giờ, rồi tôi
cứ đi mãi, chưa khi nào có dịp về thăm quê...
Nói đến đây ông ta
dừng lại đi đến bên cửa sổ, Minh thấy ly trà trên tay ông ta hơi rung lên.
Sau buổi chiều hôm
ấy Minh bỗng trở thành một người bận rộn, mỗi tuần ba lần cậu lại đi tàu điện
ngầm từ Marseille lên Paris để vào làm cho một phòng nghiên cứu nhỏ chuyên về
các loại thảo thược phương Đông. Có những hôm thậm chí Minh còn phải ngủ lại vì
công việc.
Mỗi lần như thế cậu
lại được người bạn cùng phòng dẫn đi chơi ở các hộp đêm, hay quán ba nào đó,
quả là có nhiều thứ khác xa so với cái thành phố cảng nơi cậu đang theo học.
Paris cũng là nơi
thường diễn ra các cuộc đình công của thợ thuyền, sinh viên...Không biết do vô
tình hay sao mà mỗi khi có một cuộc lãn công nào diễn ra người bạn nọ lại rủ
Minh tham cùng xem, cũng có đôi lần họ hòa mình vào đám đông ấy, và hô lên vài
khẩu hiệu gì đó.
-
Đấy, cậu thấy không, người ta dân
chủ như thế cơ mà, có khi chỉ cần hơi chạm chút ít đến quyền lợi thôi là họ tổ
chức nghỉ việc, xuống đường ngay.
Minh gật gù khi nghe
anh ta nói, cậu cũng thấy lạ, chẳng hiểu người ta lấy thời gian ở đâu mà suốt
ngày biểu tình như thế.
Mà, công việc ở
phòng nghiên cứu sản phẩm cũng khiến Minh thấy có gì đó là lạ, với vốn kiến
thức đã học cậu nghĩ sẽ phải làm điều đó quan trọng hơn là chỉ ngồi phân tích
mấy mẫu tảo châu Á rồi viết vài trang báo cáo. Còn một điều nữa, đó là tiền
lương mà cậu nhận được cao hơn hẳn so với những gì Minh nghĩ, cả mấy người bạn
cùng phòng cũng tròn mắt ghen tỵ khi biết khoản thu nhập của cậu.
Sau hai tháng đi làm
thêm, Minh thông báo về nhà là không cần gửi tiền sang nữa.
Một hôm, sau giờ làm
việc, người đồng ngiệp vỗ vai Minh:
-
Hôm nay, tớ sẽ giới thiệu với cậu
một người mà chắc chắn là sẽ mang đến cho cậu nhiều cảm xúc.
Dưới trường cũng
đang được nghỉ, chẳng suy nghĩ nhiều, Mình đồng ý ngay.
*
* *
Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2015
MỘT CHUYẾN ĐI
MỘT CHUYẾN ĐI
Truyện phiêu lưu, săn tìm cổ vật của Bế Mạnh Đức
1- CHÙA HOANG GIỮA ĐẠI NGÀN
Một ngày, cuối mùa Thu tôi
nhận được cú điện thoại.
- Anh xuống ngay, không lại
tiếc…
-
Nhưng… có chuyện
gì vậy?
- Hàng đẹp!
Chỉ thế rồi cúp máy. Cô này
vẫn vậy, tiết kiệm đến bần tiện. Nghe thế, tôi vội vàng dắt xe ra cửa .
Ngồi trong phòng khách, ngoài
cô chủ hiệu đồ cũ còn một người nữa, tay này mặt choắt, mũi diều hâu, thoạt
nhìn tôi đã ngần ngại. Đó là một người thu mua phế liệu, họ chạy xe máy, đi rất
xa, vào tận các bản làng, vừa đi vừa mở loa thông báo thu mua các loại đồ cũ.
Chào hỏi xong, cô chủ chỉ vào
người nọ bảo:
-
Đây, anh này!
Anh ta nhìn tôi gật đầu chào
tay vẫn cầm chiếc điện thoại, anh bấm bấm, rồi đưa tôi, à thì ra là những ảnh chụp. Một chiếc đèn bằng đồng.
-
Họ đòi cao quá em
không dám mua, chỉ chụp lại, bác xem có lấy được thì em mua giúp!
Mấy hôm sau, chiếc đèn dầu
lạc thời tiền Lê đã chễm chệ trên bàn nhà tôi.
Đó là một tác phẩm được làm
thủ công khá cầu kỳ, có điều lạ là thường nó có màu đen bóng nhưng nếu dùng
khăn chà mạnh thì lại chuyển dần sang đỏ đậm. Tôi chắc đây là một vật quý.
Được vài hôm, thì tay thu mua
đồ cũ lại gọi. Hắn thông báo có hàng, nhưng phải đi xa. Thú thực, lúc nghe hắn
nói tôi đã tính từ chối, nhìn tướng mạo hắn chẳng thể tin sẽ có chuyện tốt,
nhưng cái máu ưa sự mạo hiểm đã trỗi dậy. Cuối cùng bọn tôi thống nhất đi vào
cuối tuần.
-
Em cũng chỉ nghe
nói, dân trong ấy không dám vào đó. Biết bác là tay dày dạn nên em rủ, à bác
nhớ đem theo dụng cụ.
Gọi là dụng cụ chứ thật ra
chỉ là cái máy dò kim loại, vài lọ hóa chất,
cái xẻng nhỏ, búa... Dù vậy cũng gần lưng balo, đã đi xa nhiều lại hay
vào những vùng hẻo lánh nên lúc nào trong ấy tôi cũng để sẵn dao, bật lửa, thậm
chí cả dây câu.
Sau gần nửa ngày, chúng tôi
vào một xã vùng biên, đến cả cái tên tôi cũng chưa nghe bao giờ, xã Nậm Kho.
- Phải gửi xe ngoài này, đi
bộ thôi.- Người đưa đường ái ngại nhìn tôi.
Đi cũng đã nhiều, nhưng quả
thật chưa bao giờ tôi đến một nơi như ở đây, đó là một vùng hiểm địa, người ta
đào ngang dãy núi tạo ra một con đường cheo leo, chỉ đủ lối chân người. Một bên
là vách đá, bên kia sâu hút, phía dưới lấp ló dòng suối nhỏ. Vừa đi tôi vừa
nghĩ; “ Nếu sểnh chân thì…” – nghĩ đến đó rồi thôi, không dám tiếp.
Quanh co đến chiều thì bắt
đầu xuất hiện nhà dân. Một bản người Dao khá quần tụ trên mấy quả đồi.
Ngoài hiên, có anh chàng ngồi
ủ rũ tóc tai bù xù, với đôi mắt đờ dại.
-
Lâu lắm rồi,
không ai dám vào, liều như bọn thanh niên lấy được vài thứ về bán rồi điên hết.
– Ông chủ nhà buồn rầu chỉ ra ngoài cửa.
Sáng hôm sau, tôi và người
bạn đồng hành chào chủ nhà rồi lên đường, thì ra tay này đã biết lối nhưng chắc
thiếu kỹ năng tìm kiếm nên mới nhờ đến tôi. Lúc ngang qua người thanh niên dở
người tôi bỗng có cảm giác là lạ, bước thêm vài bước tôi đột ngột ngoái nhìn
thì bắt gặp ánh mắt của anh ta, một ánh mắt sắc lạnh, không hề dại khờ.
Đó là một trái núi biệt lập,
nhưng có vẻ phong quang chứ không rậm rạm như thường thấy, để sang đó người ta
bắc một cây cầu treo bằng dây rừng và những thân gỗ tròn. Nó thật mong manh
giữa đại ngàn. Nhìn ngắm hồi lâu tôi ngại ngần dừng bước.
-
Lần trước em cũng
đếch dám qua – Tay dẫn đường có vẻ đã hiểu tôi
đang nghĩ gì – Mãi sau, thấy họ qua rồi em mới liều sang.
Tôi líu ríu, vịn dây theo sau
hắn, cây cầu bắt đầu rung rinh.
-
Hay là về thôi! –
Tôi bảo hắn.
-
Sắp đến rồi, qua
khỏi cầu là dễ đi thôi, trông bác thế kia mà cũng non gan phết…- Tay dẫn đường chả biết cố tình khích tôi hay thật lòng
chế giễu.
Nghe thế, máu sỹ nổi lên, tôi
ưỡn ngực nhấc chân đi tiếp, nhưng càng đi, cầu càng rung mạnh, đến đoạn giữa,
chỗ trũng nhất thì nó đã lắc như có ai đưa võng. Mà có vẻ gió thổi mạnh hơn thì
phải. Bỗng tay dẫn đường dừng lại mặt xanh tái nhìn tôi; - Em quên, mỗi lần chỉ
được một người qua thôi!
Trời đất, tôi định kêu lên
nhưng chẳng còn hồn vía đâu, chân tôi run lập cập, bên dưới, dòng suối nhỏ như
một sợi dây màu trắng, lẫn trong đá nhấp nhô…
Hai chúng tôi lúc này chả còn
giữ thể diện gì, cứ lom khom bò, trống ngực gõ liên hồi... Cuối cùng thì cũng
sang đến nơi.
Khác với đầu kia, bên này khá
bằng phẳng, phong cảnh rất hữu tình. Có những bãi cỏ xanh, thi thoảnh lại được
tô điểm bằng vài cây sau sau trắng. Thấp thoáng hình như có đàn dê núi đang gặm
cỏ.
Con đường mòn vắt ngang đỉnh
núi, rất dễ đi, dù khá quanh co, thi thoảng lại có một phiến đá ngang đường giống như bậc lên xuống. Từ đây
nhìn ra xung quanh chỉ thấy nhưng đỉnh núi khác, thấp hơn hẳn, xa xa có lẽ là
phố thị.
Rồi phía trước hiện ra một
cánh rừng thưa, con đường mòn nhỏ dần lại, cỏ mọc rậm hơn, có vẻ rất ít người
qua lại. Đi thêm chặng nữa thì tôi không tin vào mắt mình khi nhìn thấy cái gì
giống như một mái nhà, nó ẩn hiện dưới tán lá cây và lẫn vào vách đá.
Đó một ngôi chùa cổ, rêu
phong đã phủ kín, nhưng vì phần lớn ẩn vào hang núi nên còn khá nguyên vẹn, lá
mục và cỏ dại đã lấp kín sân. Chúng tôi phải rẽ lối mà vào.
-
Hôm trước họ chỉ
đưa em vào đến đây rồi về… mất mẹ mấy lít.
Mặt choắt vừa đưa tay vạch cỏ
vừa làu bàu.
Từ đây có thể nhìn được khắp lượt
đỉnh núi, cả cây cầu treo phía dưới cũng trong tầm mắt, người chọn nơi đây hẳn
muốn bao quát cả vùng này.
Ngồi nghỉ chốc lát rồi hai chúng tôi đi sâu
vào trong, mạng nhện giăng khắp nơi, chỗ bệ thờ chẳng còn thứ gì, người ta đã
lấy hết từ lâu. Càng vào sâu càng tối, tôi lục túi tìm đèn pin, tay đồng hành
cũng đã bật đèn của hắn, à thì ra cũng chẳng vừa.
Mò mẫm một lát thì gặp một
bậc đá, rồi cứ thế dẫn xuống dưới, ánh sáng yếu dần rồi tối hẳn, lâu lâu có một
ngánh nhỏ chỉ vừa chỗ người lách vào, tôi đoán có thể là những ngách thoát
hiểm, giống như hang chuột vậy. Không khí càng lúc trở nên ẩm ướt, thi thoảng
có giọt nước rơi trúng cổ, lành lạnh.
( còn tiếp )
2- KẾT CỤC CỦA LÒNG THAM
Quanh
co độ nửa giờ thì chúng tôi đến một khoảng đất bằng phẳng, nhưng trần rất thấp,
nếu không chú ý tôi đã va đầu vào đá. Tôi lục ba lô lấy bộ đèn ác quy, lát
sau ánh sáng đã tràn ngập.
Đó là một khoảng khá vuông vức, rộng độ vài mét vuông, giống
như căn phòng nhỏ, bốn bên vách đá phẳng phiu, chắc hẳn người xưa đã rất kỳ
công đục đẽo. Dưới nền vương vãi mẩu nến, đuốc tre, có vài đoạn lốp xe đạp đốt
dở, chắc hẳn nhiều người đã vào đây, vì trên tường còn mấy dòng chữ viết bằng
than ngệch ngoạc.
Tôi chậm rãi ngồi xuống châm
thuốc hút, vì đã biết phải làm gì. Tay dẫn
đường lúc này dường như hơi thất vọng, hắn ngó ngiêng vào những góc khuất rồi
lắc đầu chép miệng:
-
Chắc là công cốc
rồi bác nhẩy! Mẹ nó, biết thế này…
Tôi nhìn đồng hồ, mới hơn
mười giờ, chắc là xong sớm thôi. Đoạn tôi quay sang hắn:
-
Nghỉ ngơi tý đã,
đâu còn đó!
-
Bác bảo sao, còn
gì đâu, bọn nó chẳng lấy sạch rồi…
Tôi cười nhẹ, đúng là có nghề
vẫn hơn.
Người đưa đường miễn cưỡng
ngồi xuống, chắc vì còn nể tôi – một tay săn tìm có hạng- nếu không chắc hẳn đã
quay lên.
Theo thói quen tôi thò tay
rút điện thoại.
-
Có sóng đếch đâu
mà…- bạn đồng hành của tôi ngán ngẩm.
Tôi vốn định gọi về cho tay
đồng nghiệp hỏi vài chuyện. Thế này thì, nếu có
gì xảy ra chắc chỉ có trời biết.
Tàn điếu thuốc, tôi bắt đầu
làm việc, soi đèn thật gần bức tường đá, từng khoảnh nhỏ, tôi tìm một thứ,
nhưng không thấy! Sang đến mảng thứ hai, rồi thứ ba cũng vậy, chỉ là tường đá.
Tôi bắt đầu thất vọng, theo lệ, những biệt phòng thế này, đồ quý sẽ được giấu
trong tường.
Còn mảng cuối cùng, tôi cẩn
thận dò thật kỹ, từng chút một, à đây rồi, có một chỗ hơi sẫm màu.
-
Đem búa đây! Tôi
quay sang mặt choắt lúc này đang đứng sát tôi, chăm chú nhìn.
Có một âm thanh quen thuộc
vang lên, đúng như lý thuyết, đó là mảng tường rỗng.
-
Đập ra chứ bác? –
Mặt choắt khá thông minh hỏi tôi.
-
Từ từ, chú lấy mấy
cây nến với cục cồn khô ra đây.
Sau khi nến đã được thắp, cồn
cũng đã đốt, tôi, theo đúng lệ chắp tay khấn thầm, vì tôi biết, tâm linh vẫn là
một điều khó giải thích.
-
Nhưng sao phải
đốt cồn hả bác?
-
Có gì đâu, cồn và
nến sẽ khử khí độc, lát nữa khi tường vỡ, chú nhớ ngồi sát xuống nền. Hơi sẽ
bay lên cao, phải vài phút mới tan hết.
Chỉ vài nhát búa, một khoảng
trống đã lộ ra, nó sâu hơn tôi nghĩ. Tôi bỗng thấy hối hận, nhưng quả thực từ
đầu tôi cũng không cho rằng sẽ có gì ở đây, may chăng chỉ là vài món đồ xưa.
Bộ xương người được đặt ngồi
chăm chăm nhìn chúng tôi. Tay đưa đường giật
mình lui lại, thấy tôi bật cười hắn mới
dạn bước lên.
( chuyện thế nào, hồi sau sẽ rõ )
Có một hũ đầy vàng và ba chum
bạc nén, ước chừng độ hơn hai chục cân cả thảy. Chúng tôi thu dọn xong thì đồng
hồ đã chỉ ba giờ chiều.
Lúc này, tôi mới thấy lo. Để
cho tay dẫn đường đi trước tôi theo sau,
vừa đi vừa nghĩ cách làm sao để an toàn. Càng lên cao tôi càng căng thẳng, mồ
hôi rịn ra ướt đẫm cả áo. Mải suy tính tôi bước hụt, ngã xoài ra, tay dẫn đường
giật mình quay lại.
-
Không sao đâu,
trượt chân thôi.
Ánh sáng lộ ra mỗi lúc một rõ.
Sau rồi chúng tôi cũng đã
đến đỉnh hang, cũng là nền chùa, tôi vừa
châm thuốc vừa lấy giọng bình tĩnh bảo người cùng đi:
-
Thế này nhé, chú
lấy chỗ vàng và hai hũ bạc đi, dù sao công của chú mới là chính, tôi chỉ xin
chỗ còn lại, chả gì tôi cũng khá giả hơn chú…
Hắn ậm ừ nhìn lảng đi chỗ
khác, tôi hiểu, vậy là không ổn. Nếu thẳng thắn mà nện nhau tôi cũng chẳng ngại
chi, nhưng hắn mà bất ngờ xuống tay thì cũng khó mà lường được.
Đang hoang mang tôi bỗng nảy
ra một ý, vừa đưa tay sờ soạng quanh người tôi vừa lẩm bẩm:
-
Chết mẹ, khéo rơi
mất!
-
Cái gì thế bác? –
Mặt choắt quay lại nhìn tôi.
-
Điện thoại, chắc
rơi chỗ trượt chân. – Tôi vừa lẩm bẩm vừa đứng lên- Cái danh bạ…toàn chỗ thân
quen…
Rồi tôi khoác balo quay lại
lối xuống, được vài bậc tôi bước nhanh, đây rồi cái nghách nhỏ, tôi vội lách
vào, không sâu lắm, nhưng thế là ổn.
Trong ánh sáng mờ mờ tôi nhận
ra cái bóng của người đồng hành đã đến trước lối xuống, để cho hắn yên tâm tôi
chiếu đèn hướng xuống dưới rồi lúc lắc tay làm như đang đi.
Không phải chờ lâu, tôi thấy
một ánh chớp lóe lên rồi tiếng một vật lăn lộc cộc theo những bậc đá, tôi lui
vội vào trong thu người lại.
Một tiếng nổ khô khốc vang
lên, rồi âm vang theo vách đá. Lựu đạn.
( còn nữa )
Vì nghách khá sâu nên tôi chỉ
bị chút chấn động, nhưng khói thì rất đậm đặc, phải rất cố gắng tôi mới không
bật tiếng ho.
Hồi lâu, mọi thứ im ắng trở
lại.
Đợi thêm lúc nữa tôi mới bắt đầu mò mẫm đi
lên, mà không dám bật đèn. Lát sau thì đến nền chùa. Vắng lặng.
Bạn đồng hành chắc đã đi xa.
Tôi khoan khoái trèo lên một phiến đá phẳng, thấy lòng yên tĩnh lạ. Lúc này
trời đã về chiều, vài tia nắng cuối ngày đang cố vắt nốt lên đầu núi, ở dưới
thung sâu, sương mù đang đùn lên, mù mịt.
Tôi vừa châm thuốc vừa lơ
đãng nhìn về phía cây cầu, ô kìa, mặt choắt hiện ra sau tảng đá, hắn đeo cái ba
lô sau lưng cắm cúi đi, thi thoảng quay nhìn phía sau, khi thấy tôi hắn hơi
dừng lại thoáng chút kinh ngạc rồi lại vội rảo bước, vừa đi vừa ngoái lại.
Thấy tôi không động tĩnh gì
mặt choắt có vẻ yên tâm, đến đầu cầu hắn đứng lại giây lát rồi bước xuống, đi
như chạy, chỉ một lát hắn đã gần đến giữa,cây cầu rung lên, mỗi lúc một mạnh,
bỗng, tôi không tin vào mắt mình, một tiếng “phật” khá lớn vang lên, cây cầu
đứt dây đúng lúc người bỏ chạy sắp đặt chân lên bờ bên kia. Tiếng hét khủng
khiếp vang động cả núi rừng khiến tôi không khỏi sởn tóc gáy.
Nhưng, tôi còn kinh ngạc hơn
nữa và buộc phải đứng dậy dụi mắt vì không tin vào những gì đang diễn ra, ngay
đầu cầu bên kia, chỗ dây vừa đứt, sau mấy tảng đá, có bốn năm bóng người lấp ló
chui ra, tên nào cũng lăm lăm dao kiếm trên tay. Họ đã đợi ở đó tự bao giờ.
3 – NHỮNG NGÀY SINH TỬ
Phải mất mươi phút sau tôi
mới hoàn hồn. Bên kia cầu, bọn người khi nãy đã đi khuất, có vẻ chúng chưa thấy
tôi. Nhưng dù có thấy thì giờ đây chỉ có mọc cánh may ra mới gặp được nhau.
Lúc này, khi ánh chiều đang
tắt dần tôi mới thấy lo cho mình.
Đêm xuống, trời mỗi lúc một
lạnh, tôi ngồi bên đống lửa mà lòng rối như tấm lưới, làm sao mà về được đây !
Chợt một cơn gió lạnh thổi tới, rồi trời lấm tấm mưa, cũng may còn có mái chùa.
Đang vẩn vơ ngẫm nghĩ bỗng
tôi thấy hình như có cái gì thấp thoáng ngoài hiên, hình như… là một bóng
người. Tôi bắt đầu run, tay nắm chặt con dao tôi khẽ đứng lên, một lát sau khi
mắt đã quen với bóng tối thì…
( còn nữa )
Ngay dưới hiên chùa, cạnh cây
cột cái, một bóng người đứng đó. Trong ánh sáng yếu ớt, nhập nhoạng của đống
lửa khiến bóng đen lúc ẩn lúc hiện càng làm tôi thêm phần kinh hãi.
Nhớ khi còn nhỏ bà nội thường
bảo, ma quỷ vốn cũng là người chết biến thành, mình cứ thật lòng thì họ cũng
chẳng chấp đâu, nghĩ vậy nên tôi lấy hết can đảm lẩm bẩm trong mồm:
-
Thưa thần tiên,
con vô tình mạo phạm, nay bị lạc ở đây, tuyệt không có ý gì xấu, mong thần tiên
tha cho…
Bỗng cái bóng sụp xuống lạy
như tế sao:
-
Bác…bác tha cho
em, là em đây…
Tôi kinh hãi, lui lại: -
Trời, thì ra là mặt choắt, hồn ma của nó còn về đây làm gì, tôi có lỗi nào đâu,
tự nó đấy chứ. Nghĩ vậy tôi bèn bảo:
-
Thôi, chú sống
khôn chết thiêng, đời là vậy ai mà biết trước, ra khỏi đây rồi tôi sẽ mời thầy
cầu siêu cho chú…
-
Bác…bác tha cho
em…em đây .- Bống đen lại kêu lên thống thiết, rồi đổ vật xuống thành một đống
bùng nhùng.
Mồ hôi vã ra, tim đập như
trống hội, rồi tôi cứ ngây ra mà nhìn, trong khi tay chân đã bủn rủn hết.
Mãi lâu sau, đống đen ấy vẫn
nằm đó. Hình như không phải ma. Tôi chất thêm củi, khêu cho lửa to lên, rồi cầm
một khúc cây đang cháy dở từ từ lại gần. Ô, thằng mặt choắt, người nó bê bết
máu, quần áo rách bươm, có vẻ đã yếu lắm.
Sau vài hụm nước, nó mở mắt
ra được một lát rồi thiếp đi.
Tôi nhìn nó mà lòng càng thêm
rối, nó đấy, cái kẻ đã giết hụt tôi trong hang tối đấy, là kẻ vì của cải mà
biến thành quỷ đây. Làm sao bây giờ?
Đêm mỗi lúc một khuya, có
tiếng chim rừng thảng thốt ở đâu vọng về nghe khắc khoải như ai có nỗi oan gì
chưa giải được. Tôi cứ ngồi đó ngẫm nghĩ về sự đời, về con người, mọi thứ hóa
ra thật mong manh, ở nơi xa kia chốn ồn ào phố thị, có những toan tính nào đang
hình thành, có những âm mưu nào sắp hoàn tất…Để rồi hóa ra, tất cả, tất cả sẽ
chỉ là hư vô…
Sau mệt quá, tôi thiếp đi lúc
nào không biết.
( còn tiếp )
Tôi bị đánh thức bởi tiếng chim hót, bên cạnh
lửa vẫn cháy đều, mặt choắt đã dậy từ khi nào, có vẻ hắn không bị nặng lắm.
Thấy tôi ngồi dậy hắn ấp úng:
-
Anh…
-
Ừ,- tôi đáp hơi
gượng ép – có bị nặng không?
-
Dạ chắc không
sao, chỉ hơi đau đầu…
Lúc này tôi mới nhìn kỹ kẻ
chạy trốn, có một vết rách trên đỉnh đầu, nhưng không sâu lắm, có lẽ là máu
chảy xuống tóc, rồi thấm xuống áo quần đâm ra trông có vẻ ghê, cộng thêm bộ đồ
đã rách bươm hết nên càng thê thảm.
-
Lúc cầu đứt em
vẫn bám được dây chão, sau bị đập mạnh vào vách đá thì chẳng còn biết gì nữa,
mãi đêm, em mới tỉnh lại thì thấy mình nằm trên một chạc cây. Đầu cầu đứt vẫn
lủng lẳng phía trên, thế là em leo lên.
Mặt choắt vừa khêu lửa vừa
chậm rãi kể, thi thoảng lại len lén nhìn sang tôi. Im lặng hồi lâu tôi bảo hắn:
-
Thôi, bây giờ tao
với mày cũng cùng đường rồi, biết khôn thì dựa vào nhau mà tìm lối về.
Hắn vâng dạ.
Sau khi chén nốt chỗ lương
khô mang theo tôi và kẻ đồng hành đi tìm lối thoát. Chỉ toàn là vực đá trơn
nhẵn hoặc lởm khởm tai mèo, tuyệt không có một chỗ nào khả dĩ cho việc leo
xuống.
Đến trưa tôi chán nản quay
lại chùa.
Bụng bắt đầu sôi, nhưng cơn
khát mới khiến chúng tôi khổ sở, đã xuất hiện cảm giác quay cuồng vì mất nước.
Tôi chợt nhớ trong cuốn sách dạy người ta sinh tồn khi lạc rừng có đoạn nói
rằng có thể lấy nước uống từ thân cây chuối. Tôi bèn chặt một đoạn ống mai nhỏ
rồi vòng ra sau chùa nơi có một bụi khá
sum suê, vạt nhọn một đầu ống tôi cắm mạnh vào thân một cây to nhất, lát sau
dòng nước bắt đầu chảy ra, không nhiều lắm nhưng cũng đủ cho bọn tôi tỉnh táo
hơn.
-
Hơi chát anh nhỉ?
– Mặt choắt phàn nàn.- Mà sao anh biết cách này?
-
À, tao đọc sách,
mà mày thử tìm xem liệu có gì ăn không? Không có gì vào bụng, xuống sức nhanh
lắm đấy.
Mặt choắt đăm chiêu giây lát,
nhưng có vẻ tay này chỉ giỏi những trò ma mãnh, còn sự thông minh thì chưa đạt
đến.
-
Hình như hôm qua
tao thấy có dê ăn cỏ quanh đây, sao giờ đâu hết nhỉ?- Tôi gợi ý.
-
Ôi dào, dê nhà
đấy, người ta chả đuổi về từ chiều rồi…-
Mặt choắt buồn rầu.
-
Thế mà tao cứ
tưởng…
Nắng mùa này không quá gay
gắt, nhưng đủ ấm để các loài bò sát sau một đêm lạnh thường bò ra tìm thức ăn,
biết đâu chúng tôi chẳng kiếm được được một vài con vật gì đó. Nghĩ vậy tôi rủ
mặt choắt đi tìm trên những phiến đá. Chẳng phải mất công mấy, sau hơn một giờ
săn bắt chúng tôi đã có một bữa trưa với thằn lằn nướng, tuy chưa thể no bụng
nhưng tôi quyết định dành lại ba con cho buổi chiều.
Đang lơ mơ nằm nghỉ bỗng mặt
choắt kêu lên:
-
Anh ơi, nhìn
kìa…có…có người…
Theo tay hắn chỉ, tôi thấy có
vài người dân bản địa đang ngó ngiêng phía bên kia núi, biết là chẳng giải
quyết gì nhưng tôi cũng lóc cóc theo hắn đi ra chỗ cây cầy. Phải nói thật to
thì hai bên mới nghe được nhau.
-
Có ổn kh..
ô..ô…ng…? – Một người bắc loa tay gọi sang.
Ổn cái..cứt..tôi lầm bầm. Còn
mặt choắt thì rướn cổ hét sang:
-
Cứu v…ơ…i…ới…
Bên kia, nghe xong ngán ngẩm
lắc đầu. Rồi cứ nhìn nhau mà chỉ chỏ như vậy khá lâu, mãi rồi họ cũng vẫy tay
chào rồi lần lượt quay lưng, chẳng mấy chốc đã khuất vào cỏ lác. Cảm giác bị bỏ
rơi bắt đầu xâm chiếm, kẻ đồng hành tham lam của tôi thẫn thờ ngồi trên một hòn
đá mắt dõi theo mấy bóng người đang mờ hẳn bên kia vực thẳm.
-
Em quê Bắc Ninh, lên
đây làm cửu vạn rồi quen nó, thấy bảo nhà đâu tận Thanh Hóa, em cũng chả hỏi,
rồi về ở với nhau.
Đêm hôm ấy, có vẻ đã hết
ngượng, tay mặt choắt tâm sự với tôi về gia cảnh, nghe ra cũng là người chăm
chỉ, hai vợ chồng đã mua được nhà đàng hoàng.
-
Anh em mình mà
chết ở đây thì…
Hắn bỏ lửng câu nói nhìn sang
tôi, có vẻ biết mình lỡ lời. Tôi càng ngán ngẩm, nhưng cũng cố lấy giọng cứng
mà trả lời hắn:
-
Tao với mày còn
cao số, chưa chết được đâu…Thôi ngủ đi lấy sức mai còn đi bắt thằn lằn.
Sáng hôm sau tôi dậy sớm, quang cảnh núi
rừng buổi sớm mai thật là thanh khiết, giá như đây chỉ là một chuyến dã ngoại
thì hay biết mấy.
Lại
một vòng nữa quanh đỉnh núi, lần này hai kẻ bất hạnh săm soi từng khe đá, gốc
cây với hy vọng tìm ra một lối đi, nhưng có vẻ ông trời đã quyết định cho chúng
tôi ở đây làm thần núi.
Một
đêm nữa qua đi, lương thực có vẻ cạn, cả ngày hôm qua chúng tôi chỉ tìm được
một chú thằn lằn, chắc là do nạn săn bắt diễn ra gay gắt quá nên chúng đã bỏ
đi, nguy cơ thiếu đói đang tăng lên, tinh thần thì xuống dần. Sau mấy hôm không
tắm rửa, quần áo lại rách mướp, thằng mặt choắt trông chả khác chi con bù nhìn.
Cứ lâu lâu nó lại thở dài.
- Biết
thế này em thà ở nhà, ngày kiếm vài chục, nghèo mà vui.
Tôi cười khẩy:
- Muộn rồi, việc bây giờ là
nghĩ xem có cách nào xuống được núi, cứ ngồi đó mà than thở không giải quyết gì
đâu!
Mặt choắt nghe tôi nói càng
tiu ngỉu, chợt nó quay sang:
-
À, mà sao bác vẫn
…vẫn… sống…? –
Hình
như đến nước này, chả còn gì để mất, nên nó mới hỏi vậy, mà cái thằng lúc bác,
lúc anh, à phải rồi khi nào khách sáo thì nó gọi bác, lúc thành thực nó lại kêu
anh.
Nghe nó hỏi tôi bỗng thoáng
giật mình, những cái ngách nhỏ, chắc nó phải dẫn đi đâu chứ. Nghĩ vậy tôi đứng lên bảo nó:
-
Theo tao!
Thằng mặt choắt ngây ra chả
hiểu gì, nhưng rồi cũng lóp ngóp theo tôi xuống hang. May quá, pin vẫn còn kha
khá. Ở ngách đầu tiên chúng tôi đi khoảng hơn chục mét thì hết đường, mấy cái
sau cũng vậy, chỉ còn một ngách cuối cùng. Lúc này pin đã yếu lắm, chỉ còn mờ
mờ ảo ảo. Cái ngách này sâu hơn hẳn, có lẽ phải gấp mấy lần, nhưng rồi cuối
cùng bọn tôi cũng chạm vách đá.
Vừa mệt, vừa thất vọng, tôi
ngồi phệt xuống nền hang. Đúng khi ấy đèn tắt ngấm. Hai chúng tôi chả ai buồn
nói gì, cứ thế ngồi im trong bóng tối, tôi chẳng còn biết phải làm gì thêm, còn
mặt choắt, nó đã hết hy vọng.
-
Này, - sau cùng
tôi bảo hắn- dù sao thì tao với mày chết còn có đồng đội, mà… không biết sau
này có nhà ngoại cảm nào tìm được xương anh em mình không nhỉ.
Nó im lặng, chắc chẳng còn
đầu óc nào mà bỡn cợt nữa rồi.
Lát sau khi đã hồi sức tôi
lại bảo:
-
Thôi lên đi, chết
ở trên cho nó thoáng.
Rồi tôi uể oải đứng dậy. Bỗng
thằng mặt choắt kêu lên thảng thốt: - Anh ơi, hình như…có…có…
-
Có cái gì! – Tôi
cũng chột dạ
Mặt choắt đi qua cạnh tôi rồi
tôi nghe thấy tiếng nó đạp chân huỳnh huỵch, ô kìa một tia sáng nhỏ xíu lọt
vào.
Chúng tôi ra sức đẩy, cuối
cùng thì phiến đá cũng rơi xuống, ánh sáng ùa vào, một cảnh tượng kỳ vĩ hiện
ra, trước măt chúng tôi là cây cối rậm rạm của dãy núi đối diện, đã nghe tiếng
nước suối chảy phía dưới, nếu so với bên kia thì chúng tôi đang ở lưng chừng
núi.
-
Hú…hú…- Hai kẻ bất
hạnh cùng rú lên man dại.
Nhưng, sau phút vui mừng thì
bọn tôi cùng nhận ra một sự thật, từ đây xuống đó cũng một vực đá trơn nhẵn.
Người thường không thể đi được. Chỗ gần nhất có thể đặt chân cũng phải tương
đương bốn năm tầng nhà, ấy là tôi ước lượng vậy, có khi còn hơn.
Dù thế, nhưng sau thắng lợi
này, bọn tôi phấn chấn hẳn, tôi bàn cứ lên đỉnh kiếm cái gì ăn đã, thế này thì
trời chưa tuyệt đường đâu.
Có lẽ do dư âm của việc tìm
ra lối thoát nên hai chúng tôi trở nên rôm rả hơn, chả mấy chốc đã lên đến sân
chùa. Rồi may mắn làm sao buổi trưa hôm đó mặt choắt kiếm được một con rắn khá
lớn, chúng tôi ngồi nướng ăn mà lòng vui lạ.
Đang ăn thì hắn bỗng dừng
nhai rồi huých vào tay tôi, theo hướng mắt nhìn, tôi thấy ở bên kia núi chỗ cây
cầu đứt có mấy bóng người. Tôi nghĩ bụng; có giải quyết gì đâu! Sau rồi cũng
bảo hắn ra xem sao.
Hồi lâu, hắn trở về có vẻ ưu
tư.
-
Hình như không
phải dân miền rừng anh ạ! Xem ra họ muốn sang đây, nhưng có vẻ không phải để
cứu mình, vì thấy em mà họ không buồn hỏi han gì, em cũng đếch cần…nên không
nói gì.
-
Nhưng cứu thế
nào? – Tôi vừa gỡ xương vừa góp chuyện.- Hỏi để làm gì? Mà là ai thế nhỉ? Có
thể dân ở bên đó đã báo ra ngoài, nhưng để tổ chức một đội tìm kiếm thì không
phải ngày một, ngày hai, mà có ai thèm cứu anh em mình làm gì.
Mặt choắt nhìn xa xăm:
-
Không tìm mình,
nhưng chỗ vàng bạc…
-
Ừ nhỉ, - Tôi ngẩn
người - nhưng còn gì mà tìm, hay mày vẫn giấu ở đâu – Tôi đùa.
-
Ôi giời, em không
tan xác là may rồi, bác cứ trêu em! – Mặt choắt ngượng nghịu.
-
Thôi nghiêm túc
nhé – Tôi nói – Dù bọn kia là ai, muốn gì, thì tao với mày cũng cứ phải thoát
ra cái đã.
Nói thế, nhưng tôi cũng chưa
biết sẽ làm sao, gặm xong mấy khúc thịt rắn, tôi khoan khoái ngả lưng bên đống
lửa, chẳng mấy chốc đã thiếp đi.
Khi tôi thức giấc thì trời đã
ngả về chiều, nhìn quanh không thấy bạn đồng hành đâu, tôi hơi băn khoăn, thằng
này đi đâu nhỉ? Tôi hơi lo lắng sờ tay vào thắt lưng tìm con dao, nó đã biến
mất. Lại giở trò gì đây?
Ngao ngán tôi đứng lên nhìn
xung quanh, rồi dõi mắt ra xa, ồ thằng mặt choắt đang lúi húi chỗ đầu cầu treo,
nó làm gì thế nhỉ. Bên kia chẳng còn ai. Tôi lững thững đi xuống, thấy tôi nó
cười cười:
-
Bác ngủ ngon quá
em không dám gọi, thoát rồi bác ạ!
Thấy mặt tôi vẫn đầy vẻ ngu
si nó chỉ tay vào đoạn dây cáp dùng để treo cầu đã được lôi lên mặt đất một
đoạn khá dài:
-
Đây, em cắt lấy
một bên dây treo, chắc đủ để anh em mình đu xuống!
A, thằng này, thế mà được!
Tôi reo lên trong bụng.
- Đấy tao đã bảo rồi, trời
vẫn còn thương anh em mình! – Tôi cố lên giọng, để át đi sự thua kém của mình.
Đến tối thì bọn tôi cắt xong
đoạn dây. Nó thành một đống lù lù trên đất, đó là một loại dây rừng khổng lồ,
rất dai, tôi đoán người ta sẽ phải thay dây định kỳ, vì qua thời gian nó sẽ lão
hóa. Sợi dây này chắc cũng sắp đến ngày.
Đêm đó dù không ăn gì nhưng
bọn tôi không thấy đói, có lẽ vì món rắn nướng có nhiều chất, cộng với niềm vui
sắp được tự do đã át đi tất cả, hai thằng cứ hàn huyên đủ chuyện, mong trời
chóng sáng.
Hôm sau, mới mờ đất, chúng
tôi đã lục cục thu dọn đồ đạc, nói thu dọn cho oai chứ có gì đâu, tôi đi trước
cầm bó cỏ khô được bện chặt dùng làm đuốc, thằng nọ vác cuộn dây bước theo sau,
tôi định bụng xuống được chân núi rồi sẽ kiếm đồ ăn, dưới đó hẳn là sẽ sẵn hơn.
Loay hoay một hồi, sau cũng
cố định được một đầu vào cái gờ đá khá lớn, thằng mặt choắt nhìn tôi rồi đẩy
cái đống dây ra khoảng không:
-
Vừa đủ anh ạ, -
nó ngó xuống dưới rồi nhìn tôi - chắc cách mặt đất cũng không xa mấy! Thế, em
xuống trước nhé.
Tôi
gật đầu.
Tuy
có thể nói rằng đây là một kết quả không thể tốt hơn, nhưng việc đu vào sợi dây
rừng để tụt xuống một khoảng cách cao như vậy tôi chưa từng làm, thi thoảng có
thấy trên tivi nhưng đó là những người lính biệt kích dạn dày chinh chiến, chứ
đâu phải tôi.
Người
đồng hành đã bắt đầu leo xuống, có lẽ vụ trèo lên hôm trước khiến nó khá thành
thạo. Tôi nhìn theo mà không khỏi lo âu.
Được
vài phút bỗng nó dừng lại quắp chặt sợi dây, chăm chú hồi lâu rồi nó ngẩng lên
nhìn tôi nói phều phào:
-
Có…có con gấu.
-
Đâu, đâu? – Tôi
vừa hỏi vừa dớn dác nhìn quanh. Ồ, dưới một bụi cỏ khô cách đầu dây chừng vài
mét một chú gấu nâu đang đứng bằng hai chân nhìn lên, vì màu lông khá giống với
đám cỏ khô nên chúng tôi không để ý.
-
Cứ bình tĩnh! -
tôi kêu lên động viên hắn - Rồi nhìn quanh, sau tôi tìm được mấy viên đá khá
lớn. Cẩn trọng, tôi vừa ném xuống, vừa quát lên thật to. Con gấu hơi giật mình,
nhưng có vẻ mấy viên đá ấy chẳng nhằm nhò gì. Nó hộc lên mấy tiếng đầy đe dọa
rồi vừa chạy vòng quanh một gốc gần đó, vừa cào đất đầy thách thức.
-
Em mỏi tay lắm
rồi bác ơi! – Thằng người đang lủng lẳng giữa trời chốc chốc lại gọi với lên.
-
Hay là mày cứ
liều xuống đánh nhau với nó – Tôi cố đùa cho đỡ căng thẳng.
-
Bác xem có cách
nào…khéo em rơi mất!
Con gấu chỉ bỏ đi sau khi tôi
ném bó đuốc xuống đám cỏ khô, tiếng lửa cháy lép bép rồi khói bốc lên mù mịt
khiến nó hoảng sợ lùi dần rồi quay đầu chạy.
-
Nó đi xa chưa
anh?
-
Xa rồi, xuống đi!
Vừa chạm đất, thằng nọ vội
chạy lại chỗ đám cháy nhặt ngay một cành củi. Tôi bật cười, có đám lửa ấy còn
con gì dám đến nữa.
Ném cái balo xuống trước, tôi
bắt đầu bám vào sợi dây, dễ hơn tôi nghĩ, vì thân của nó khá sần sùi chỗ to chỗ
nhỏ,rất bám tay. Chốc lát tôi đã đứng trên mặt đất.
Hai thằng nhìn lên miệng hang
với nhiều cảm xúc.
Giờ đây, xung quanh chúng tôi
là rừng rậm.
Lúc này tôi mới thấy đói,
chắc cũng khoảng gần trưa, hôm nay trời âm u.
Sau hơn một giờ đồng hồ đi
dưới đại ngàn thì chúng tôi đến bên bờ suối, nó rộng hơn so với tôi mường tượng
khi nhìn từ trên cao, nước trong mát. Tôi đưa dao cho mặt choắt bảo nó tìm mấy
con jun, còn tôi chuẩn bị dây câu.
Chỉ lát sau, mùi cá mương
nướng đã thơm dậy cả một góc rừng, tôi tiếc là không đem theo muối, còn thằng
kia lại nhắc đến rượu, thà đừng nói còn hơn, vì nỗi nhớ cái thứ ấy chẳng mấy
chốc lại cồn lên.
No nê đâu đó hai thằng bắt
đầu bàn chuyện về nhà.
Tôi bảo, cứ đi xuôi theo dòng
chảy, chắc chắn sẽ ra khỏi rừng, mặt choắt đồng ý ngay, nó nói, kiểu gì bác
cũng hơn em.
Dòng suối quanh co dưới chân
những trái núi, giá mà cứ chạy thẳng thì có lẽ cũng chẳng mấy xa xôi, mãi đến
xế chiều, chúng tôi cũng chưa đi được bao xa, vì đường đi khá gập gềnh, mà dưới
những tán cổ thụ, trời tối nhanh hơn thì
phải. Vừa trèo hết con đèo nhỏ tôi bỗng giật mình khi ở phía dưới cách bọn tôi
không xa có một cột khói bốc lên, có người. Người đồng hành của tôi mừng quá,
nó bắc tay làm loa định hú lên nhưng tôi ngăn lại.
-
Cứ bình tĩnh, xem
thế nào đã, giữa rừng hoang thế này…
Nó nhìn tôi gật gật đầu.
Vừa đi tôi vừa cân nhắc, liệu
có thể là ai, một người thợ săn, một người bản địa…hay chỉ đơn giản là bác tiều
phu. Dù là ai thì chúng tôi cũng sắp gặp được con người để mà hỏi thăm, đã năm
ngày chúng tôi lạc rừng.
Khi chỉ còn cách cột khói mấy
gềnh đá thì mặt choắt chợt dừng lại, nó kéo tôi ngồi xuống thì thào:
-
Bọn nó…
-
Bọn nào?- Tôi
hỏi.
-
Bọn hôm qua ở bên
kia núi đấy! Em vẫn nhớ cái thằng to béo chỉ gườm gườm nhìn em mà không nói
năng gì.
-
Thế thì…- Liệu có
phải chúng nó…
Mặt choát gật gù:
-
Khéo thế thật.
Tôi bàn với nó là sẽ theo dõi
đám người kia, trời cũng sắp tối, chắc là họ chuẩn bị nghỉ lại. Đợi đêm xuống
chúng tôi sẽ tìm cách tiếp cận.
Bọn người lạ mặt có bốn nhân
mạng, nhìn lối ăn mặc không khó để đoán chúng là dân thành thị.
Ngồi trong một ngách đá được
che kín bởi đám lá khoai mon tôi băn khoăn không hiểu chúng là ai,đang đi đâu.
Chợt mặt choắt thì thào:
-
Bọn nó có súng
anh ạ!
Tôi nhìn xuống, một tên đang
nâng cây súng dài ngắm bắn gì đó, rồi lại hạ xuống. Việc này khiến tôi hơi lo,
hẳn đây không phải người lương thiện gì.
Đợi cho trời tối hẳn bọn tôi
men theo những bờ đá bên con suối tiến dần đến khu lều trại của đám lạ mặt, đêm
tối quá, đường lại khó đi, cả thêm phần hồi hộp nữa khiến chúng tôi hơi căng
thẳng. Khi chỉ còn cách bếp lửa độ chục mét thì thằng mặt choắt trượt chân rơi
đánh ùm xuống suối, bọn người đang ăn uống dáo dác cả lên.
-
Cái gì đấy?
-
Hay là hổ!
-
Chắc con gì thôi,
hổ thì phải có mùi khăn khẳn, chua chua…
-
…
Một thắng cầm cây súng đứng
lên:
-
Để tao…- Rồi nó
bước lên vài bước, nhưng cũng không dám đi xa, nó hướng mũi súng về phía tôi.
Chẳng kịp làm gì, tôi nằm bẹp xuống nền đá. Sau tiếng nổ là những tiếng rào rào
của đạn ghém va vào đá. Bắn xong, thằng nọ quay lại đống lửa, cười:
-
Khéo sáng mai có
thịt thú nhắm rượu!
Lâu sau, mặt choắt khẽ bò đến
bên tôi thì thầm: - Bác có sao không?
-
Không, nó bắn hú
họa ấy mà, mình bò thêm đoạn nữa, nghe chuyện ở đây câu được câu chăng…
Bọn nọ đã bắt đầu ngấm rượu,
chúng nói oang oang, thì giữa rừng sâu có ai nghe.
Hóa ra, bọn chúng đi tìm vàng
thật, có một nguồn tin nào đó cho chúng biết về số của cải chôn giấu trong
chùa.
-
Tao đánh dấu rồi,
cứ đi dọc suối, đến đó sẽ tìm cách leo lên.- Một tên vừa tu chai nước vừa nhai
nhồm nhoàm nói.
-
Không biết cái
thằng bị nhốt ở bên kia lấy gì ăn nhỉ?
-
Nó có hai thằng
chứ? – Tiếng một tên khác.
-
Tao chỉ thấy một,
mà bọn Mán cũng bảo chỉ có một thằng về thôi, nhưng rơi, chết rồi…
-
Thôi kệ bố nhà
nó, mà còn thằng nào thì mình cũng thịt nốt…nào uống đi.
-
…
Nge ngóng hồi lâu, biết rõ
tung tích, tôi bấm người đồng hành quay lại ngách đá, lần này chúng tôi đi cẩn
thận hơn, nhưng nghĩ lại kể cũng bằng thừa, bọn nọ đã say cả rồi, còn đâu tỉnh
táo.
Sáng hôm sau, mãi lúc mặt
trời lên cao, bọn người nọ mới lục tục dậy thu dọn lều trại, báo hại chúng tôi
cứ phải núp trong đám khoai rừng không dám manh động. Đợi chúng đi khuất một
lúc lâu chúng tôi mới rẽ lá chui ra, nhưng tôi chợt giật mình, dưới khu lều
trại vẫn còn vương vài sợi khói không hiểu ở đâu chui ra hai người đàn ông cũng
lăm lăm súng kíp.
Tôi kéo thằng đồng hành vào,
chúng tôi nhìn mà toàn thấy dâu hỏi trong mắt nhau, mãi sau thằng nọ chợt à
lên:
-
Em nhớ rồi, hai
bố con thằng chủ nhà mà mình ngủ lại ấy, nhưng thằng con bị điên cơ mà, sao nó
lại…
Tôi cũng đã ngờ ngợ, nhưng vì
khoảng cách hơi xa nên chưa nhận ra, nhưng cái ánh mắt của anh con trai hôm
trước tôi vẫn nhớ, và chắc rằng đó không phải là ánh mắt của người điên.
-
Tao hiểu rồi. Hai
vị này biết có vàng giấu trong núi, cũng đã cố tìm nhưng không thấy, bèn tung
tin ra ngoài để mượn tay người khác làm giúp, sau đó sẽ hưởng trọn…Hôm nọ, mày
mà qua được cầu thì xong rồi con ạ.
-
Thế à? - Mặt
choắt mở to mắt nhìn tôi.
-
Tao đã thấy bọn
này rình sẵn bên kia cầu…số mày còn cao lắm.
Vừa trao đổi bọn tôi vừa dõi
theo hai kẻ nham hiểm dưới kia, có lẽ chúng cũng đã ở đây đêm qua. Thật hú vía.
Rồi sau chúng cũng đi khuất.
Tôi vừa đi vừa nghĩ rất lung,
chỉ vài ngày thôi mà có bao nhiêu chuyện xảy ra, ai cũng cố giấu đi con người
thật của mình, ai cũng nói đến điều tốt đẹp, cái tử tế, nhưng khi có tác động
của vật chất, chúng sẽ bị phơi bày, thế mới hay, con người thực sự chỉ là một
giống quá tầm thường. Có khi còn không bằng loài chó, vốn hay bị đem ra làm ví
dụ cho sự xấu xa. Nhầm, hóa ra là nhầm hết…
-
Bác nghĩ gì mà
đăm chiêu thế, từ nãy giờ chả thèm nói gì, em phát hãi…
Tôi ngắt dòng suy tưởng nhìn
sang, nó rách rưới, mệt nhọc, nhưng cũng không giấu được vẻ hào hứng bởi sắp
được về nhà, nó đấy ư, là con người đấy sao? Chỉ nay mai thôi, nó lại là một
anh thu mua đồng nát lương thiện, hy vọng, con quỷ nằm ẩn trong nó chắc sẽ
không có dịp chui ra nữa. Ôi, cuộc đời.
4- LẠI SẮP RA ĐI
Tôi ngồi một mình trong cà
phê Bên Sông, giờ này thật vắng, trang báo mạng chuyên đưa tin giật gân có một
bài khiến tôi chú ý; Tìm thấy nhiều hài
cốt trong rừng sâu, nhà báo cũng chỉ nghe nói là do nhóm người đi lạc trong
rừng lâu ngày nên bỏ mạng, điều đặc biệt là những bộ xương này được xác định là
đã chết từ khá lâu, chỉ bị phát hiện bởi những người khai thác gỗ.
- Bác đợi em lâu chưa?
Tôi xem đồng hồ, thằng mặt
choắt chỉ sai có ba phút, hôm qua, nó hẹn tôi ra đây bảo có chuyện quan trọng.
Nhìn cái mặt nó tôi đã không mấy tin…
Hết
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)
